|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HOÀ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc & Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng từ năm 2018 cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân là do ông V thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn, không quan tâm gì tới gia đình con cái, nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn V. - Về con chung: Bà và ông Lê Văn V có một con chung là cháu Lê Nguyễn Kim C, sinh ngày 02/01/2018. Bà yêu cầu Tòa án giao cháu C cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. - Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho ông Lê Văn V theo đúng quy định pháp luật nhưng ông V không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai. Tại phiên toà: Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh N; về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Anh N và ông Lê Văn V; về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Kim C cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Ly hôn”, do bị đơn là ông Lê Văn V cư trú tại phường C, thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bà Nguyễn Thị Anh N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự. [3] Về yêu cầu của đương sự: [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Anh N và ông Lê Văn V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 13/11/2017 tại UBND xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, ông V không lo làm ăn và chăm lo cho gia đình con cái. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa hai vợ chồng tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, cho bà N ly hôn ông V để tạo điều kiện cho hai bên ổn định cuộc sống riêng. [3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Anh N và ông Lê Văn V có một con chung là cháu Lê Nguyễn Kim C, sinh ngày 02/01/2018. Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu C đang ở với mẹ, để tạo điều kiện cho cháu được chăm sóc và phát triển tốt nhất. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. 1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Anh N và ông Lê Văn V. 1.2 Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Kim C, sinh ngày 02/01/2018 cho bà Nguyễn Thị Anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Lê Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con. 1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét. 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Anh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2023/0002556 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. * Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảy Nhuận |
