|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 25-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương.
Bà Đoàn Kim Bình.
Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Văn T, sinh năm 1972 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn S (đã chết) và bà Ngô Thị P; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L và 03 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 02/9/2023 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T: Ông Nguyễn Văn T1 là Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Hồ Văn P1, sinh năm 2008, có mặt.
- Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1992, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn T và chị Nguyễn Thị L là vợ chồng cùng sinh sống với con là cháu Hồ Văn P1, sinh năm 2008 và cháu Hồ Thị Huỳnh N, sinh năm 2021 tại phòng số 5 nhà trọ T, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 02 giờ ngày 02/9/2023, trong lúc nói chuyện trong phòng số 5 thì T và chị L nảy sinh mâu thuẫn do T nghĩ chị L quen người đàn ông khác. Do bực tức, ghen tuông nên T lấy 01 (một) sợi dây điện màu vàng dài khoảng 2,6 mét (một đầu có gắn chui cắm điện) cắm vào ổ điện đang có nguồn điện, T cầm đầu dây điện còn lại đã bóc vỏ nhựa lộ 02 lõi dây đồng chích vào người chị L. Chị L bị điện giật nên dùng tay gạt dây điện, T tiếp tục lấy 01 (một) dao dài khoảng 23,5 cm, lưỡi kim loại, cán nhựa màu đen, mũi nhọn trên kệ ở khu vực bếp đâm 11 nhát trúng vào vùng hạ sườn phải, hạ sườn trái, rốn, liên sườn VII bên trái, đùi phải, đùi trái, cẳng tay phải, ngón I bàn tay trái, ngón IV bàn tay trái, vùng mu, hố chậu phải của chị L. Chị L kêu cứu thì cháu P1 (ngủ ở trên gác phòng số 5) can ngăn T và đưa chị L đi cấp cứu. Sau đó, T đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra:
- 01 (một) sợi dây điện màu đỏ dài khoảng 06 mét một đầu có gắn chui cắm và một đầu gắn ổ cắm điện.
- 01 (một) sợi dây điện màu vàng dài khoảng 2,6 mét một đầu có gắn chui cắm, 01 đầu dây điện đã bóc vỏ nhựa lộ 02 lõi dây đồng.
- 01 (một) dao dài khoảng 23,5 cm, lưỡi kim loại, cán nhựa màu đen, mũi nhọn.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 615 ngày 01/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Thị L, kết luận:
- - Vết thương hạ sườn phải (1,8 x 0,2)cm, vết thương hạ sườn trái (2,3 x 0,3)cm, vết thương dưới rốn (2,5 x 0,3)cm, vết thương liên sườn VII bên trái (2 x 0,4)cm, vết thương hố chậu phải (1,5 x 0,1)cm, thấu ngực - bụng gây thủng gan, thủng cơ hoành trái, thủng đại tràng ngang 2 lỗ, thủng lách, rách thanh cơ ruột non, đã phẫu thuật khâu gan, cơ hoành, đại tràng ngang, thanh cơ ruột non, cắt lách. Vết mổ đường giữa bụng trên dưới rốn (15 x 0,6)cm, vết dẫn lưu nách trái (3 x 0,7)cm, vết dẫn lưu bụng trái (1,5 x 0,5)cm, sẹo lành.
- - 02 vết thương đùi phải (7,8 x 0,5)cm và (22,5 x 1)cm, vết thương đùi trái (12 x 0,7)cm, sẹo lành.
- - 03 vết thương cẳng tay phải (3,4 x 0,3)cm, (2,3 x 0,3)cm, (1,7 x 0,2)cm, vết thương ngón I bàn tay trái (1,5 x 0,1)cm, vết thương ngón IV bàn tay trái (1,5 x 0,2)cm, vêt thương vùng mu (5,5 x 0,4)cm.
2. Kết luận:
3
2.1 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị L tại thời điểm giám định là: 83% (Tám mươi ba phần trăm).
2.2 Kết luận khác:
- * Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương hạ sườn phải, hạ sườn trái, dưới rốn, liên sườn VII bên trái, vết thương thấu bụng thủng gan, thủng cơ hoành trái, thủng đại tràng ngang 2 lỗ, rách thanh cơ ruột non, thủng lách, 02 vết thương đùi phải, đùi trái, 03 vết thương cẳng tay phải, ngón I bàn tay trái, ngón IV bàn tay trái, vết thương vùng mu, hố chậu phải: Các vết thương sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật có cạnh sắc nhọn gây ra.
- * Trường hợp này nếu không cấp cứu kịp thời có gây tử vong không?
- - Theo Hồ sơ bệnh án ghi nhận, bệnh nhân L nhập viện Bệnh viện đa khoa tỉnh B lúc 03 giờ 15 phút ngày 02/9/2023 trong tình trạng như sau:
- - Bệnh nhân tỉnh đừ, vật vã, da niêm nhợt.
- - Mạch 100 lần/phút, huyết áp 90/60 mmHg, nhịp thở 20 lần/phút.
- - Chẩn đoán (lúc khám nhập viện): Choáng chấn thương/Vết thương thấu ngực-bụng: Thủng gan – thủng lách – thủng đại tràng ngang - rách thanh cơ ruột non – thủng cơ hoành trái - vết thương đùi trái, phải - vết thương cẳng tay phải - vết thương bàn tay trái - vết thương mu trái.
- - Bệnh nhân được đưa đi phẫu thuật lúc 4 giờ 50 phút ngày 02/9/2023 (khoảng hơn 01 giờ sau khi bị thương tích). Phiếu phẫu thuật ghi nhận: Vào đường giữa bụng trên dưới rốn # 15cm, ổ bụng có khoảng 1500ml máu đỏ, kiểm tra gan thấy 01 lỗ thủng hạ phân thùy III # 3cm, 01 lỗ thủng rốn lách chảy máu nhiều, 01 lỗ thủng cơ hoành trái, đại tràng ngang có 02 lỗ thủng 1 lỗ 1,5cm, 1 lỗ 1cm, tiến hành cắt lách, khâu các lỗ thủng cơ hoành, gan, đại tràng.
Như vậy, theo ghi nhận của bệnh viện, bệnh nhân L có biểu hiện sốc, tụt huyết áp do tổn thương đa tạng, chảy máu ở bụng lượng nhiều (1500ml), có chỉ định phẫu thuật cấp cứu, truyền máu (03 đơn vị máu # 700ml máu toàn phần).
Do đó, cho phép nhận định trường hợp thương tích của bị hại Nguyễn Thị L nếu không điều trị cấp cứu kịp thời, khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng.
Tại Kết luận giám định số 78 ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: trên phần lưỡi dao dài khoảng 23,5cm gửi đến giám định có bám dính máu người. Phân tích kiểu gen (ADN) nữ giới hoàn chỉnh từ dấu vết máu người này trùng với kiểu gen của Nguyễn Thị L.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại L yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 157.000.000 đồng bao gồm: chi phí khám và điều trị bệnh là 46.510.165 đồng, chi phí đi lại là 10.489.835 đồng, tiền bồi thường tổn thất sức khỏe là 100.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu N đến khi đủ 18 tuổi với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng. Bị cáo chưa bồi thường.
4
Cáo trạng số 115/CT-VKSBD-P2 ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ và cáo trạng truy tố bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Văn T theo cáo trạng số 115/CT-VKSBD-P2 ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Giết người” (chưa đạt), đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 11 năm đến 12 năm tù.
Về thu giữ vật chứng và đề nghị xử lý: Đối với 01 (một) sợi dây điện màu đỏ dài khoảng 06 mét một đầu có gắn chui cắm và 01 đầu có gắn ổ cắm; 01 (một) sợi dây điện màu vàng dài khoảng 2,6 mét một đầu có gắn chui cắm, 01 đầu dây điện đã bóc vỏ nhựa nhìn thấy 02 lõi dây đồng; 01 (một) dao dài khoảng 23,5 cm, lưỡi kim loại, cán nhựa màu đen, mũi nhọn là công cụ phương tiện dùng để sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về phần dân sự: Tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Người bào chữa trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T: đồng ý với quan điểm luận tội của đại điện Viện kiểm sát, kính mong Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt của bị cáo xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo tự nguyện ra đầu thú và tại phiên tòa bị hại có xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở về với gia đình.
Bị cáo Hồ Văn T thống nhất lời trình bày của người bào chữa và không tranh luận thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo xin lỗi bị hại. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
5
[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 02/9/2023, phòng số 5 nhà trọ Trần Văn D, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, xuất phát từ việc Hồ Văn T bực tức, ghen tuông vì nghĩ chị Nguyễn Thị L có quan hệ với người đàn ông khác, T dùng dây điện truyền dẫn nguồn điện phục vụ sinh hoạt chích vào người chị L, chị L bị điện giật nên dùng tay gạt dây điện. T tiếp tục dùng 01 dao đâm 11 nhát trúng vào vùng hạ sườn phải, hạ sườn trái, rốn, liên sườn VII bên trái, đùi phải, đùi trái, cẳng tay phải, ngón I bàn tay trái, ngón IV bàn tay trái, vùng mu, hố chậu phải của chị L thì được cháu Hồ Văn P1 can ngăn, tỷ lệ thương tích do hành vi của T gây nên cho chị L là 83% (tám mươi ba phần trăm). Cáo trạng số 115/CT-VKSBD-P2 ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Hồ Văn T là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Do bực tức vì ghen tuông trong cuộc sống mà bị cáo đã có hành vi dùng dây điện cắm vào ổ điện đang có nguồn điện chích vào người bị hại, khi bị hại chống cự thì bị cáo dùng dao đâm vào nhiều vị trí trên cơ thể bị hại gây tổn hại sức khỏe cho bị hại là 83%, hành vi bị cáo đã thực hiện có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, bị hại không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú và bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
6
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, Điều luật, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) sợi dây điện màu đỏ dài khoảng 06 mét một đầu có gắn chui cắm và 01 đầu có gắn ổ cắm; 01 (một) sợi dây điện màu vàng dài khoảng 2,6 mét một đầu có gắn chui cắm, 01 đầu dây điện đã bóc vỏ nhựa nhìn thấy 02 lõi dây đồng; 01 (một) dao dài khoảng 23,5 cm, lưỡi kim loại, cán nhựa màu đen, mũi nhọn là công cụ phương tiện dùng để sử dụng vào việc phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Giết người” (chưa đạt).
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 và 593 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hồ Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
7
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sợi dây điện màu đỏ dài khoảng 06 mét một đầu có gắn chui cắm và 01 đầu có gắn ổ cắm; 01 (một) sợi dây điện màu vàng dài khoảng 2,6 mét một đầu có gắn chui cắm, 01 đầu dây điện đã bóc vỏ nhựa nhìn thấy 02 lõi dây đồng; 01 (một) dao dài khoảng 23,5 cm, lưỡi kim loại, cán nhựa màu đen, mũi nhọn.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương ngày 21 tháng 5 năm 2024).
- Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Hồ Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo còn phải chịu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn T phạm tội Giết người
