|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/DS-ST
Ngày 24-7-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Lệ Hoa
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1/ Bà Lâm Thị T; Sinh năm: 1975 (Có mặt)
2/ Ông Ngô Hoàng P; Sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Bà Lâm Thị T; Sinh năm: 1975 cùng địa chỉ.
- Bị đơn: 1/ Bà Nguyễn Thị T1 (Vắng mặt)
2/ Ông Phạm Văn Đ; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;
Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/3/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lâm Thị T trình bày:
Từ ngày 28/6/2015 đến ngày 26/8/2016 bà T và ông P có bán cho ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, do chỗ quen biết với nhau và mua bán nhiều lần nên ông Đ và bà T1 còn nợ lại ông bà số tiền 23.290.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng trên số tiền chậm trả, việc chốt nợ không làm giấy tờ gì. Đến năm 2020 bà T có làm đơn yêu cầu chính quyền ấp F, xã T giải quyết thì ông Đ không thừa nhận số nợ trên mà chỉ nhận nợ số tiền 7.492.000 đồng và hứa sẽ trả vào ngày 03/4/2020 nhưng đến nay ông Đ và bà T1 vẫn không trả số tiền trên. Nay bà T yêu cầu ông Đ và bà T1 trả số tiền vốn 7.492.000 đồng và tiền lãi 3%/tháng tính từ ngày 31/4/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án cho ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 nhưng ông Đ và bà T1 không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
Tại phiên tòa:
Bà T yêu cầu ông Đ và bà T1 trả số tiền vốn 7.492.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 31/4/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lâm Thị T và ông Ngô Hoàng P khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 thanh toán tiền mua hàng. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán; ông Đ và bà T1 có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T và ông P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn cố tình vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ và bà T1 theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ vào các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giao dịch mua bán giữa bà T, ông P với ông Đ và bà T1 là thực tế có xảy ra. Tại “Biên bản hòa giải " ngày 21/4/2020 ông Đ thừa nhận có nợ bà T ông P số tiền 7.492.000 đồng và cam kết trả đủ số tiền trên nhưng ông Đ không thực hiện. Vì vậy, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và cần buộc ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền mà ông Đ đã thừa nhận nợ. Đối với bà T1 tuy không ký tên nhưng có biết mà không phản đối gì đối với nội dung biên bản trên, xét việc mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của ông Đ là để trồng mía nhằm mục đích phục vụ kinh tế chung của gia đình nên xác định đây là nợ chung của vợ chồng nên cần buộc bà T1 cùng có nghĩa vụ liên đới với ông Đ trả cho bà T và ông P là phù hợp.
[3] Đối với yêu cầu tính lãi số tiền trên số tiền nợ 7.492.000 đồng từ ngày 21/4/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/7/2024, tính tròn 51 tháng bằng mức lãi suất theo quy định của pháp luật của nguyên đơn thấy rằng do ông Đ và bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cần buộc ông Đ và bà T1 có nghĩa vụ trả lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Do hợp đồng các bên khi xác lập không thỏa thuận lãi suất và không thống nhất với nhau về lãi suất nên áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 làm cơ sở xem xét. Như vậy số tiền lãi của số tiền nợ 7.492.000 đồng x 51 tháng x 10%/năm bằng số tiền 3.184.100 đồng. Vì vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T và ông P buộc ông Đ và bà T1 phải trả cho bà T và ông P số tiền là 10.676.100 đồng. Trong đó nợ vốn bằng số tiền 7.492.000 đồng, nợ lãi bằng số tiền 3.184.100 đồng.
[4] Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[5]Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông P và bà T không phải chịu, số tiền ông bà đã dự nộp được nhận lại, ông Đ và bà T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Đương sự được quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 430, 440, 468 của Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T và ông Ngô Hoàng P về việc yêu cầu ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 thanh toán nợ.
Buộc ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Lâm Thị T và ông Ngô Hoàng P số tiền là 10.676.100 đồng. (Trong đó nợ vốn bằng số tiền 7.492.000 đồng, nợ lãi bằng số tiền 3.184.100 đồng).
- Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lâm Thị T và ông Ngô Hoàng P cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự có giá ngạch: ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu số tiền 533.800 đồng. Bà Lâm Thị T và ông Ngô Hoàng P không phải chịu án phí. Ngày 27/3/2024, bà T và ông P có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 455.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016084 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Phạm Lan Chi |
Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 92/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tiền mua bán
