TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/DS – ST Ngày: 23/4/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Đức Quang
- Ông Lâm Văn Quốc Trọng
Thư ký Tòa án: Bà Phạm Ngọc Phương- thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 03 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST ngày 02 tháng 04 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB)
Trụ sở : Tầng 1, tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower – 111A Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật : Ông Hàn Ngọc Vũ – Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền : Huỳnh Tống Ngoan (có mặt)
Địa chỉ liên lạc: tầng 6 Tòa nhà Pax Sky, số 26 Ung Văn Khiêm, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn :
- Ông Trần Lê Ngọc Sang, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thu Hương – sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : 285/82 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB) có người đại diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Tống Ngoan trình bày:
Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) – VIB TTKD ký với khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang hợp đồng tín dụng số 0221/HĐTD-VIB601/17 ngày 26/01/2018 với nội dung: Số tiền giải ngân: 1.600.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, sáu trăm triệu đồng); Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu LEXUS RX350, Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 31/01/2018 đến ngày 30/01/2023; Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8,49%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + Biên độ 4.09%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định VIB tại thời điểm cộng biên độ 4,90%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: hàng tháng trả 26.666.000 đồng vào cùng ngày trả lãi, phần còn lại trả vào kỳ cuối cùng; Hoàn trả lãi: vào ngày 20 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên vào ngày 20/02/2018. Hoàn trả phí: theo quy định của VIB từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
VIB đã giải ngân cho khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0221/HĐTD-VIB601/17 ngày 26/01/2018 với số tiền 1.600.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Khoản vay có tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0221/HĐTC-VIB601/17 ngày 26/01/2018. Tuy nhiên, VIB không yêu cầu giải quyết đối với tài sản bảo đảm này.
Ngày 06/09/2018, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) đã phát hành thẻ tín dụng hạn mức 150.000.000 đồng theo Đề nghị phát hành thẻ mà khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang đã ký kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 23/04/2024, khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang đã thanh toán cho VIB số tiền là 1.695.699.647 đồng (gốc: 1.266.763.000 đồng, lãi: 428.936.647 đồng).
Phía Ngân hàng VIB đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang thanh toán, nhưng bà Hương và ông Sang cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam quyết định khởi kiện bà Nguyễn Thu Hương và ông Trần Lê Ngọc Sang ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Nay, Ngân hàng VIB kính đề nghị Quý Tòa xem xét giải quyết buộc:
Bà Nguyễn Thu Hương và ông Trần Lê Ngọc Sang phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc và lãi vay tạm tính đến hết ngày 23/04/2024 cụ thể số tiền là: 823.581.997 (Bằng chữ: Tám trăm hai mươi ba triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, chín trăm chín mươi bảy đồng) trong đó: Nợ gốc hợp đồng tín dụng là 333.237.000 đồng, nợ lãi trong hạn hợp đồng tín dụng là 17.050.895 đồng, nợ lãi quá hạn hợp đồng tín dụng là 216.313.844 đồng; Dư nợ thẻ tín dụng là 256.980.258 đồng.
Ngoài ra, đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 24/03/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thu Hương và ông Trần Lê Ngọc Sang thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như trên và bổ sung:
Tạm tính đến ngày 23/04/2024, bà Nguyễn Thu Hương và ông Trần Lê Ngọc Sang còn nợ Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam số tiền là: 823.581.997 (Bằng chữ: Tám trăm hai mươi ba triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, chín trăm chín mươi bảy đồng) trong đó: Nợ gốc hợp đồng tín dụng là 333.237.000 đồng, nợ lãi trong hạn hợp đồng tín dụng là 17.050.895 đồng, nợ lãi quá hạn hợp đồng tín dụng là 216.313.844 đồng; Dư nợ thẻ tín dụng là 256.980.258 đồng.
- Bị đơn là bà Nguyễn Thu Hương và ông Trần Lê Ngọc Sang vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1. 2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu trả nợ trong Hợp đồng tín dụng số hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 ngày 26/01/2018 giữ a Ngân hàng và ông Sang, bà Hương
Xét thấy, vào ngày 26/01/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam và ông Trần Lê Ngọc Sang, bà Nguyễn Thu Hương có ký hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 với nội dung chính: Ông Sang, bà Hương vay của Ngân hàng số tiền là 1.600.000.000 đồng, mục đích vay để thanh toán tiền mua 01 xe ô tô nhãn hiệu LEXUS RX350; Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 31/01/2018 đến ngày 30/01/2023; Lãi suất tại thời hạn giải ngân: 8,49%/năm.
Sau khi ký Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân cho ông Sang, bà Hương số tiền 1.600.000.000 đồng. Ông Sang, bà Hương đã nhận đủ số tiền này dựa trên căn cứ là Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0221/HĐTD-VIB601/17 ngày 26/01/2018 với số tiền 1.600.000.000 đồng do ông Sang, bà Hương ký tên.
Sau khi giải ngân, do ông Sang, bà Hương vi phạm thỏa thuận trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện để thực hiện việc thu hồi nợ theo quy định.
Tạm tính đến ngày 23/04/2024 ông Sang, Bà Hương đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 1.695.699.647 (gốc: 1.266.763.000 đồng, lãi 428.936.647 đồng)
Xét thấy, do bị đơn là ông Sang bà Hương vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên số tiền mà Ngân hàng yêu cầu bao gồm các khoản gốc và lãi vay (bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại
hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ gốc và tiền nợ tính lãi đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Sang và Hương phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ trong Hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 tính tới ngày 23/04/2024 số tiền là 566. 601.739 đồng (năm trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm lẻ một ngàn bảy trăm ba mươi chín đồng) trong đó : nợ gốc là 333.237.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.050.895 đồng, nợ lãi quá hạn là 216.313.844 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu trả nợ trong Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng hạn mức ngày 06/09/2018 giữa Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam và ông Sang, bà Hương
Ngày 06/09/2018, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) đã phát hành thẻ tín dụng hạn mức 150.000.000 đồng theo Đề nghị phát hành thẻ mà khách hàng Nguyễn Thu Hương và Trần Lê Ngọc Sang đã ký kết. Trong quá trình sử dụng thẻ bà Hương đã phát sinh dư nợ gốc tổng cộng là 1.265.670.274 đồng, thanh toán được 1.136.270.662 đồng, còn lại là 129.399.612 đồng ; lãi phát sinh là 171.835.892 đồng, thanh toán được 102.671.539 đồng, còn lại là 69.164.353 đồng; Tổng phí phát sinh là 122.898.739 đồng, thanh toán được 64.482.446 đồng, còn lại 58.416.293 đồng.
Xét thấy, do bị đơn là ông Sang bà Hương vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên số tiền mà Ngân hàng yêu cầu bao gồm các khoản gốc và lãi vay, phí đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng hạn mức ngày 06/09/2018 và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Sang và Hương phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ trong Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng hạn mức ngày 06/09/2018 tính tới ngày 23/04/2024 số tiền là 256.980.258 đồng.
[3] Nghĩa vụ trả nợ trong vụ án này của ông Sang, bà Hương được xác định là nghĩa vụ liên đới căn cứ vào sự thỏa thuận giữa Ngân hàng và ông Sang, bà Hương trong các Hợp đồng tín dụng.
[4] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam, buộc ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính tới ngày 23/04/2024 số tiền là: 823.581.997 đồng trong đó: Dư
nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 là 566.601.739 đồng, (Trong đó nợ gốc là 333.237.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.050.895 đồng, nợ lãi quá hạn là 216.313.844 đồng) ; Dư nợ thẻ tín dụng là 256.980.258 đồng (trong đó nợ gốc là 129.399.612 đồng, nợ lãi là 69.164.353 đồng, phí là 58.416.293 đồng).
[5] Trong vụ án này, Ngân hàng không có yêu cầu về việc xử lý tài sản đảm bảo mà các bên có thỏa thuận tại Điều 2 Hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 là chiếc xe ô tô nhãn hiện LEXUS RX350 nên Tòa án không xem xét, giải quyết vấn đề này.
[6] Về án phí: Ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương có nghĩa vụ liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.707.460 đồng. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam.
1.1. Ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số: 0221/HĐTD-VIB601/17 tính tới ngày 23/04/2024 số tiền là 566. 601.739 đồng (năm trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm lẻ một ngàn bảy trăm ba mươi chín đồng) trong đó : nợ gốc là 333.237.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.050.895 đồng, nợ lãi quá hạn là 216.313.844 đồng.
1.2. Ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng hạn mức ngày 06/09/2018 số tiền tính tới ngày 23/04/2024 là 256.980.258 đồng trong đó nợ gốc là 129.399.612 đồng, nợ lãi là 69.164.353 đồng, phí là 58.416.293 đồng.
Việc thanh toán tiền được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
- Ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 36.707.460 đồng. (Ba mươi sáu triệu bảy trăm lẻ bảy ngàn bốn trăm sáu mươi đồng)
- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.171.113 đồng (mười hai triệu một trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm mười ba đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0019196 ngày 24/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Trần Lê Ngọc Sang và bà Nguyễn Thu Hương được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
Bản án số 92/2024/DS – ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 92/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
