Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

THÀNH PHỐ P

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-5-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Điệu

Ông Bùi Đức Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, thành phố P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 383/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh M, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, thành phố P; có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Đào Việt C, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, thành phố P; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh M trình bày:

Chị kết hôn với anh Đào Việt C vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, thành phố P. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn Đ, xã Đ, huyện N, thành phố P. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Trần Thị Thanh M khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đào Việt C không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Việt C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010. Hiện nay anh Đào Việt C đang trực tiếp nuôi 02 con chung. Khi ly hôn chị Trần Thị Thanh M yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho anh Đào Việt C trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là nhà và đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện N, thành phố P. Khi ly hôn chị Trần Thị Thanh M đề nghị Tòa án để vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, nếu không thỏa thuận phân chia được thì sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau.

Tại bản tự khai ngày 29 tháng 02 năm 2024 bị đơn là anh Đào Việt C trình bày:

Anh kết hôn với chị Trần Thị Thanh M vào năm 2008. Trong thời gian sinh sống từ năm 2008 đến năm 2019 vợ chồng sinh được 02 con tên Đào Duy K và Đào A. Sau đó trong cuộc sống phat sinh mâu thuẫn nhỏ. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng chưa được gia đình và địa phương hòa giải. Quan điểm của anh Đào Việt C mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để các con tập trung học tập. Nếu ly hôn anh Đào Việt C có nguyện vọng được nuôi 02 con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để vợ chồng tự thỏa thuận. Về tài sản chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh M trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Đào Việt C chưa tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh M. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thanh M được ly hôn anh Đào Việt C. Về con chung: Giao 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho anh Đào Việt C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Đào Việt C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh Đào Việt C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, thành phố P vào ngày 21 tháng 4 năm 2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị Trần Thị Thanh M trình bày do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Nay chị Trần Thị Thanh M khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đào Việt C không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Việt C. Bị đơn là anh Đào Việt C thừa nhận trong quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nhỏ và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay, nay anh Đào Việt C mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để các con tập trung học tập. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, thành phố P vào ngày 21 tháng 4 năm 2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C chung sống với nhau tại thôn Đ, xã Đ, huyện N, thành phố P. Quá trình vợ chồng chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Như vậy thể hiện hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc anh Đào Việt C không đồng ý ly hôn chỉ nhằm mục đích gây khó khăn cho chị Trần Thị Thanh M. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thanh M về việc xin ly hôn anh Đào Việt C, cho chị Trần Thị Thanh M được ly hôn anh Đào Việt C.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C có 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010. Khi ly hôn chị Trần Thị Thanh M yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho anh Đào Việt C trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đào Việt C có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung. Xét từ khi vợ chồng chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay anh Đào Việt C vẫn đang trực tiếp nuôi 02 con chung, mặt khác 02 con chung tên Đào Duy K và Đào A đều có nguyện vọng được ở cùng với bố là anh Đào Việt C. Vì vậy căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thanh M, giao cả 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho anh Đào Việt C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C đều đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh M và anh Đào Việt C đều đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Thanh M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

  1. Cho chị Trần Thị Thanh M được ly hôn anh Đào Việt C.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Đào Duy K sinh ngày 16 tháng 6 năm 2009 và Đào A sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho anh Đào Việt C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết

  1. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009710 ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, thành phố P. Chị Trần Thị Thanh M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố P;
  • - VKSND huyện N;
  • - Chi cục THADS huyện N;
  • - UBND xã Đ, huyện N, thành phố P;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thúy Mở

Đoàn Văn Sáng

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ P về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Mai- Đào Việt Cường
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger