TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-ST
Ngày: 21 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Đào Khel. |
| Ông Nguyễn Phước. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trần Tấn P (tên gọi khác: Phát M), sinh ngày: 09/9/1988 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số F, đường C, Khóm E, Phường 1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc T và bà Trần Thị H; vợ: Trần Thảo T1; con: 01 người; tiền án: 01 lần, ngày 11/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong vào ngày 22 tháng 6 năm 2019, chưa xóa án tích; tiền sự: 01 lần, ngày 22/12/2023 bị Công an P1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, với số tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: Ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong vào ngày 22/6/2019, đã được xóa án tích. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2024 cho đến nay (có mặt).
- Thái Minh C, sinh ngày: 20/12/1989 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số F, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Thợ bánh mì; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thái Ngọc Đ (chết) và bà Trần Thị Mỹ L; vợ: Thạch Thị Thanh H1; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 12/9/2023 bị Trưởng Công an P2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền là 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/06/2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Lý Thanh T2, sinh năm 1972. Địa chỉ: Hẻm B, ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 17/12/2023, Trần Tấn P đang chơi tại tiệm game bắn cá S đường N, Phường B, thành phố S thì gặp Thái Minh C điều khiển xe mô tô biển số 83PT-091.63, đến chơi game bắn cá. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, P nhờ C chở đi mua đồ ăn, sau khi mua đồ ăn Phát rủ C đi tìm tài sản lấy trộm thì C đồng ý. C điều khiển xe chở P qua các tuyến đường, sau đó đến đường A, Khóm A, Phường A, thành phố S thì P nhìn thấy có 02 chiếc xe mô tô đang đậu trong đường đất nên P kêu C điều khiển xe rẽ vào đó và đợi P. Khi đến đường đất P đi bộ đến 02 xe mô tô đang đậu, còn C ở ngoài cảnh giới. Khi đi đến gần 02 xe mô tô Phát thấy 01 xe mô tô Wave Alpha màu đỏ-đen của ông Lý Thanh T2 đang đậu ở khu đất trống thăm ruộng, không người trông coi nên P dùng tay bứt dây điện của xe W đạp máy xe chạy ra đường A hướng về vòng xoay T qua đường T.
Sau đó, cả hai chạy xe về nhà của P tại số F, đường C, Khóm E, Phường I, thành phố S, P hỏi C cầm xe ở đâu thì C nói cầm ở tiệm game bắn cá Sa Kê tại số D, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S. Cảnh về nhà lấy biển số xe 83H4-8666 đem đến thay vào xe mô tô vừa lấy trộm, còn biển số 83H5-9164 của xe vừa lấy trộm được thì C đem giấu. Sau đó cả hai cùng đi đến tiệm game bắn cá S, P điều khiển xe vừa lấy trộm gắn biển số 83H4-8666, còn C điều khiển xe biển số 83PT-091.63 để đi cầm xe. Khi đến tiệm game bắn cá các bị cáo gặp Nguyễn Thị Thảo Q, được Q nhận cầm xe mô tô với giá 1.500.000 đồng, tiền cò 150.000 đồng thì P và C đồng ý. Q đưa cho C 1.350.000 đồng, C đưa cho P 700.000 đồng, cả hai cùng chơi game thua hết. Sau đó C yêu cầu cầm thêm tiền nhưng Q không đồng ý. Lúc này P gọi điện thoại cho bạn của P tên là Nguyễn Hùng V để cầm xe thì V chạy lại tiệm game bắn cá xem xe và nhận cầm với giá 1.900.000 đồng, C và P đồng ý và nhờ V chuyển 1.900.000 đồng cho Q rồi chạy xe vừa lấy trộm lại nhà V, Q đưa cho C 400.000 đồng thì C đưa cho P 200.000 đồng rồi P đi về nhà, sau đó bị Cơ quan Công an mời làm việc về hành vi cùng C lấy trộm tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 83H5-9164, nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ đen, số máy: HC09E6205256, số khung: PLHH09056Y205255, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 20% có giá 3.560.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSTPST ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo P và C phạm tội “trộm cắp tài sản”, đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày tranh luận bào chữa và tại lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Lý Thanh T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của các bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 17 tháng 12 năm 2023, tại khu đất trống bờ kênh, đường A, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Trần Tấn P cùng bị cáo Thái Minh C đã lén lút lấy 01 xe mô tô biển số 83H5-9164, nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn: đỏ đen của ông Lý Thanh T2 qua định giá tài sản có giá trị 3.560.000 đồng.
[4] Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Các bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy tài sản của bị hại có giá trị 3.560.000 đồng, nên hành vi của bị cáo C và bị cáo P đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 57/CT-VKSTPST ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố các bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Trong vụ án có 02 bị cáo cùng tham gia trộm cắp tài sản nhưng các bị cáo không có sự phân công vai trò chặt chẽ nên không mang tính tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo P có vai trò là người khởi xướng, rủ rê và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, còn bị cáo C là người thực hành tích cực.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo P tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2018/HS-ST, ngày 11/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong vào ngày 22 tháng 6 năm 2019, chưa xóa án tích do chưa chấp hành xong về trách nhiệm dân sự, nay tiếp tục phạm tội cố ý, nên bị cáo có một tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo C phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo P, C thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt đã được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Riêng bị cáo C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo P được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C được xem xét tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Ngày 16/01/2018 bị cáo P bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong vào ngày 22 tháng 6 năm 2019, đã xóa án tích đây là tình tiết cần phải xem xét khi lượng hình.
[9] Về hình phạt: Đối với các bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tù, với một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, trong đó bị cáo P là người khởi xướng và có một tình tiết tăng nặng nên mức hình phạt phải cao hơn bị cáo C.
[10] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
[12] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Đối với bà Nguyễn Thị Thảo Q và ông Nguyễn Hùng V là người đã cầm xe mô tô mà các bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C trộm cắp mà có, do khi cầm xe cả hai không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý.
[14] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Tấn P.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thái Minh C.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Thái Minh C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tấn P và Thái Minh C mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
