|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Khon;
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nhân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1999.
- Bị đơn: Hà Công H, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Hà Công H kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn ngày 01/12/2017 tại UBND xã T. Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H tính tình nóng nảy, khi đi làm về anh không quan tâm vợ con, để một mình chị T gách vác việc gia đình, còn tham gia cờ bạc, đá gà, quen biết nhiều phụ nữ khác. Từ đó khiến cho tình cảm vợ chồng trở nên phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị không còn sống chung từ tháng 01/2024 đến nay.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Công V 02/4/2019. Hiện nay, cháu V đang sống với anh H. Sau khi ly hôn, chị T đồng ý giao con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con đến khi cháu V thành niên và có khả năng lao động với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án tuyên án.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hà Công H đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh H không có văn bản ghi ý kiến về việc chị T yêu cầu ly hôn, nuôi con, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn chị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn anh H chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự như vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cần rút kinh nghiệm.
Việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T đối với anh H. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Hà Công V 02/4/2019 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị T nuôi con với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con. Bị đơn anh Hà Công H có địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, chị T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đối với anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu T và anh Hà Công H là hợp pháp, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 01/12/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và vắng mặt tại phiên tòa, anh H không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh H không có mặt để trình bày ý kiến.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh H có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn hòa hợp trong cuộc sống. Nguyên nhân là do anh H thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ chị T trong gia đình, không vun đắp tình cảm giữa vợ chồng, từ đó khiến cho tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, hôn nhân không còn hạnh phúc. Tuy đã sống xa nhau từ tháng 01/2024 nhưng cả hai không có biện pháp để tháo gỡ mâu thuẫn. Từ đó cho thấy đời sống chung giữa anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung tên Hà Công V 02/4/2019. Hiện cháu V đang sống với anh H. Chị T đồng ý giao cháu V cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không có văn bản ghi ý kiến và không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung cháu V sống với anh H, cháu được chăm sóc tốt, khỏe mạnh, môi trường sống của cháu đã ổn định. Để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con chung nên cần giao cháu V cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận anh H được trực tiếp nuôi con chung Công Vinh là phù hợp với khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Công Vinh cho đến khi thành niên và có khả năng lao động với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án tuyên án, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của chị T.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh không có mặt để trình bày ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Hà Công H.
- Về con chung: Giao con chung tên Hà Công V 02/4/2019 cho anh Hà Công H trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu T, chị T hiện cấp dưỡng nuôi con chung Hà Công V cho đến khi thành niên và có khả năng lao động với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 21/6/2024.
- Chị T và anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006533 ngày 12/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; như vậy, chị T nộp thêm số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Nữ |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T3 T2
