Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Thủy; Ông Lò Việt Hưng.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS, ngày 03/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn M -Sinh ngày 12/4/1984 tại huyện Th U, tỉnh L Ch.

Nơi cư trú: Bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un, tỉnh L Ch; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Kh - sinh năm 1953; Con bà: Hà Thị Kh1 – sinh năm 1954; Gia đình có 4 chị, em bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lò Thị Ngh - sinh năm 1984; Bị cáo có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/02/2024, tạm giam từ ngày 25/02/2024, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L Ch. (có mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lò Văn Q – sinh năm 1991.

Trú tại: Bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un, tỉnh L Ch. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 16/02/2024, tại bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un, tỉnh L Ch, Lò Văn M rủ Lò Văn Q (sinh năm 1991 trú tại bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un) đi lên rừng tìm cây chuối về cho lợn ăn. Q đồng ý và lấy xe mô tô của Q chở M đi lên bản N Q, xã Kh O, huyện Th U, tỉnh L Ch để tìm cây chuối. Trên đường đi, do M lên cơn nghiện ma túy nên M đã bảo Q chở M sang xã Ch T, huyện M C Ch, tỉnh Y B. Mục đích của M là đi tìm mua Heroine sử dụng nhưng M không nói cho Q biết. Khi Q chở M đi đến địa phận bản H Kh, xã Ch T, huyện M C Ch, tỉnh Y B thì M bảo Q dừng xe ở ngoài đường đợi. M một mình đi vào nhà một người dân tộc Mông không rõ lai lịch mua của người đàn ông đó 05 gói Heroine (được gói chung bằng hai lớp ni lon màu xanh) với giá 700.000 đồng. Mua được Heroine, M cất giấu trong túi quần bên phải rồi đi ra chỗ Q đang đợi, bảo Q chở M quay về. Đi được một đoạn, M bảo Q dừng xe mô tô, M một mình đi vào bụi cây ven đường lấy 01 gói Heroine trong số 05 Heroine mua được ra cấu lấy một nửa. Số Heroine còn lại, M gói lại như cũ rồi gói thêm bên ngoài bằng một lá cây khô, cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc. Số Heroine vừa cấu ra, M cho vào mảnh giấy bạc sử dụng hết một phần bằng hình thức hít. Phần còn lại, M gọi Q đi vào đưa cho Q sử dụng bằng hình thức hít. Sau đó, Q tiếp tục điều khiển xe mô tô chở M đi về nhà. Trên đường về, M không nói cho Q biết việc M tàng trữ Heroine trên người. Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q và M đi về đến bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un thì gặp tổ công tác Công an xã Kh O, huyện Th U đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị Công an phát hiện, Lò Văn M đã lấy gói Heroine từ trong túi quần bên phải đang mặc ra thả xuống đất nhằm tiêu hủy chứng cứ thì bị tổ công tác Công an xã Kh O, huyện Th U phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Lò Văn M 01 gói, bên ngoài được gói bằng lá cây khô, bên trong được gói bằng hai lớp ni lon màu xanh có 05 gói Heroine, trong đó có 03 gói được gói bằng mảnh ni lon màu trắng, 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu hồng; tạm giữ của Lò Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 25T1 – 181.23.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 273 ngày 16/02/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện Than Uyên và kết luận giám định số 235 ngày 22/02/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn M có tổng khối lượng 1,08 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Vật chứng của vụ án: 1,08 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích 0,44 gam gửi giám định (không hoàn lại).

2

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 25T1 – 181.23 tạm giữ của Lò Văn Q. Quá trình điều tra xác định: là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lò Văn Q. Ngày 20/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe mô tô cho Lò Văn Q.

Số vật chứng còn lại gồm: 0,64 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây khô; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT –VKS, ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 1 năm 06 tháng đến 2 năm 03 tháng tù.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,64 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây khô; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Về quy trình tố tụng cũng như căn cứ pháp luật mà vị đại diện Kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo, người bào chữa hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên mức hình phạt là quá nghiêm khắc vì: Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sự nhận thức về pháp luật và xã hội còn hạn chế, hơn nữa bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin miễn toàn bộ án phí.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa và bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 16/02/2024, tại bản H Kh, xã Ch T, huyện M C Ch, tỉnh Y B, Lò Văn M đã mua trái phép 05 gói Heroine với giá 700.000 đồng từ một người không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng. Đến 12 giờ cùng ngày, tại bản M 1, xã Kh O, huyện Th Un, tỉnh L Ch, Lò Văn M bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 05 gói Heroine có tổng khối lượng 1,08 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Nhưng để có ma túy sử dụng, ngày 16/02/2024, tại bản H Kh, xã Ch T, huyện M C Ch, tỉnh Y B, bị cáo Lò Văn M đã mua trái phép 05 gói Heroine với giá 700.000 đồng với mục đích mang về sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51

4

Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Đây cũng là căn cứ, lý do để chấp nhận phần nào lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà vị Kiểm sát nhân dân đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án gồm: 0,64 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây khô; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lò Văn Q là người điều khiển xe mô tô chở Lò Văn M đến bản H Kh, xã Ch T, huyện M C Ch, tỉnh Y B. Quá trình điều tra xác định: Q không biết việc M mua Heroine và tàng trữ Heroine mang về sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lò Văn Q là có căn cứ.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn M là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/02/2024.

3. Về vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,64 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây khô; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

5

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 07/6/2024 ).

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Than Uyên.
  • - VKSND tỉnh Lai Châu.
  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • - Bị cáo, người bào chữa.
  • - CA huyện Than Uyên.
  • - CQTHAHS huyện Than Uyên.
  • - Chi cục THADS huyện Than Uyên.
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Xuân Thu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 2 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger