|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-3-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung
Bà Trịnh Thị Lan
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 503/2024/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Đ, sinh năm 1984; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã N, thành phố H (huyện H cũ), tỉnh Ninh Bình. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Đinh Thị Bích N - Luật sư của Văn phòng luật sư Đặng D và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Minh T, sinh năm 1980; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn C, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình ghi ngày 28/11/2024, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Đinh Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình vào ngày 06 tháng 10 năm 2017. Hai bên có thời gian tìm hiểu nhau trước khi cưới. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì cách đây khoảng 3 năm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình anh Vũ Minh T nóng nảy, thường xuyên to tiếng với vợ con. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại Ninh Bình sống và đã sống ly thân với anh T từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay. Nay chị xác định rằng tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Vũ Đinh Khả H, sinh ngày 20/02/2018 (giới tính: Nữ), hiện nay con chung đang sống cùng anh T. Nếu anh T có nguyện vọng nuôi con thì chị nhất trí và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Tại bản tự khai ngày 21/01/2025, bị đơn là anh Vũ Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị Đ tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình vào ngày 06 tháng 10 năm 2017. Hai bên có thời gian tìm hiểu khoảng 02 trước khi cưới. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Bản thân anh không muốn ly hôn vì mâu thuẫn chỉ là những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Vũ Đinh Khả H, sinh ngày 20/02/2018 (giới tính: Nữ), hiện nay anh là người đang trực tiếp nuôi con chung. Nếu vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi con và yêu cầu chị Đinh Thị Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định và đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N cung cấp: Chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T chung sống tại địa phương và có xảy ra mâu thuẫn trong quan hệ gia đình, không có xô xát gì lớn. Hiện nay, chị Đinh Thị Đ không còn sống cùng anh Vũ Minh T, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.
-
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Vũ Đinh Khả H trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn, con muốn được bố trực tiếp nuôi dưỡng.
-
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là luật sư Đinh Thị Bích N có quan điểm: Chị Đ và anh T mâu thuẫn đã căng thẳng, chị Đ đã về quê sống cùng bố mẹ đẻ, vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, hai bên không còn trách nhiệm gì với nhau nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đ được ly hôn anh T. Về con chung: chị Đ và anh T và con chung là cháu Vũ Đinh Khả H đều có nguyện vọng anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Đinh Khả H cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Đ tự nguyện cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:
Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T. Về con chung: Giao cháu Vũ Đinh Khả H cho anh Vũ Minh T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng. Chị Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Vũ Minh T có nơi cư trú tại: Thôn C, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định nên yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Vũ Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Vũ Minh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình vào ngày 06 tháng 10 năm 2017 nên hôn nhân giữa chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T là hôn nhân hợp pháp.
[3] Về tình cảm: Căn cứ lời trình bày của các đương sự và tài liệu chứng cứ xác nhận quá trình chung sống của vợ chồng chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T tại địa phương, xác định vợ chồng chị Đ và anh T chung sống không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống. Hiện tại, anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ tình cảm vợ chồng. Mặc dù, anh T không nhất trí ly hôn nhưng khi Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải thì anh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Điều này chứng tỏ giữa chị Đ và anh T không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, quan hệ tình cảm không được cải thiện. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con: Vợ chồng chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T có một con chung là Vũ Đinh Khả H, sinh ngày 20/02/2018 (giới tính: Nữ). Xét nguyện vọng của chị Đ, anh T và nguyện vọng của con chung đều đề nghị anh T là người trực tiếp nuôi con chung. Xét thực tế, hiện nay cháu Vũ Đinh Khả H cũng đang ở với anh T. Để đảm bảo quyền lợi, ổn định tâm sinh lý của trẻ em khi bố mẹ ly hôn nên Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Vũ Đinh Khả H, sinh ngày 20/02/2018 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ có quan điểm tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng; anh T có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 thì mức lương tối thiểu vùng tại thành phố N là 4.410.000 đồng. Vì vậy, sự tự nguyện của chị Đ về mức cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với thực tế và pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Đinh Thị Đ là nguyên đơn và là người cấp dưỡng nuôi con nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về hôn nhân:
Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T.
-
Về con chung:
Giao con chung là Vũ Đinh Khả H, sinh ngày 20-02-2018 (giới tính: Nữ) cho anh Vũ Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị Đ phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng một tháng) kể từ tháng 3-2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập được.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Đinh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Đinh Thị Đ đã nộp tại biên lai số 0002522 ngày 23-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Đinh Thị Đ còn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Đinh Thị Đ có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Anh Vũ Minh T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Đinh Thị Đ và anh Vũ Minh T có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tống Thị Kim Phượng |
Bản án số 92/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 92/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ-T Ly hôn
