|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 92/2025/HS-PT Ngày 26 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Quang; |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Nam Phương; |
| Ông Nguyễn Đình Trung. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 522/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trương Thị L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 596/2024/HS-ST ngày 08-11-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo có kháng cáo: Trương Thị L, sinh năm 1990 tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: 134/5 N, Tổ C, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Trương H, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Trương Thị Q, sinh năm 1964; bị cáo không có chồng; có 02 con, lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Anh Lý Phúc H1, sinh năm 1990 thường trú tại ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai (làm việc tại Cửa hàng B, thuộc Khu phố A, phường T, thành phố B).
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 31/5/2024 anh H1 để 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook Air M28 core trên bàn quầy tính tiền của cửa hàng và đi ra phía ngoài để nhận hàng. Lúc này Trương Thị L đi vào trong cửa hàng để mua đồ thì nhìn thấy chiếc máy tính trên của anh H1 không ai trông coi. L nảy sinh ý định trộm cắp nên lén lút lấy trộm rồi đi ra bên ngoài cửa hàng, bỏ chiếc máy tính vào cốp xe và điều khiển xe đi về nhà tại phường T, thành phố B cất giấu. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày anh H1 phát hiện chiếc máy tính đã bị mất. Sau khi xem lại camera phát hiện có 01 người phụ nữ đi vào cửa hàng, lấy trộm chiếc máy tính xách tay trên nên anh H1 đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc.
Từ kết quả xác minh biển số xe đối tượng điều khiển khi phạm tội, Công an phường T, thành phố B xác định được Trương Thị L là người có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng B. Khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện, L đến Công an phường T giao nộp chiếc máy tính xách tay đã chiếm đoạt của anh H1 và thừa nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook Air M2 8 core, số seri: H47FD2YJJ2. Là tài sản của anh Lý Phúc H1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60AA-434.45, số khung: RLHJK034RY314428, số máy: JK03E2804053. Là tài sản của anh Trương Hoàng N, sinh năm: 1979 (bạn của L), cho L mượn để sử dụng. Anh N không biết L sử dụng xe đi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh N.
- 01 mũ bảo hiểm và 01 áo chống nắng của L, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho L.
- 02 USB chứa dữ liệu điện tử ghi hình vụ “Trộm cắp tài sản”, lưu cùng hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS, ngày 07/6/2024 kết luận: 01 máy tính xách tay Apple Macbook Air M2 8-core, trị giá 22.491.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản anh Lý Phúc H1 đưa tài sản đến cửa hàng thế giới di động kiểm tra xác định chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Apple Macbook Air M2 8 core đã bị nứt màn hình. Do đó, sau khi thỏa thuận về việc bồi thường thì Trương Thị L đã bồi thường cho anh H1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Anh H1 không yêu cầu bồi thường thêm.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 596/2024/HS-ST ngày 08-11-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Thị L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tội danh:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng quy định.
- Về kháng cáo và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án 08 (tám) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; xét thấy, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, không có chồng và có 02 con nhỏ, trong đó có 01 con sinh năm 2022; bị cáo kháng cáo cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi mẹ là người khuyết tật thuộc diện trợ cấp xã hội nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt do có tình tiết mới tại cấp phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo nộp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, bị cáo đang nuôi mẹ già bị tàn tật; 02 con còn nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 áp dụng cho bị cáo.
[4] Về kháng cáo và hình phạt:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội xử phạt bị cáo mức hình phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; hiện đang nuôi mẹ già là người khuyết tật thuộc diện được nhận trợ cấp xã hội của Nhà nước; bị cáo không có chồng và đang là lao động duy nhất trong gia đình trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, trong đó có 01 con mới sinh năm 2022. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; áp Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trương Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 596/2024/HS-ST ngày 08-11-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt do có tình tiết mới.
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Thị L 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (26-02-2025).
Giao bị cáo Trương Thị L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trương Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 92/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 92/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của bị cáo
