Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 92/2025/HSST.

Ngày: 18/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Tính

Ông Nguyễn Hồng Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát ND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Hồng Oanh - Kiểm sát viên

Ngày 18/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 106/2025/HSST ngày 20/01/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn P - sinh năm: 1991; số CCCD: [...]; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn M và con bà Nguyễn Thị N; vợ chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/12/2014 Công an phường T, thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; tạm giữ: 27/9/2024; tạm giam: 06/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thanh Hoá. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Chu Ngọc S - sinh năm: 1997; nơi cư trú: thôn B, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Chu Ngọc M1 (đã chết) và con bà Trương Thị N1; vợ chưa có; tiền án: chưa; tiền sự: Ngày 01/8/2024 bị Công an thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích”; nhân thân: Ngày 26/5/2020 bị Công an thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác”; Ngày 17/11/2023 Công an xã T, thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị bắt tạm giữ: 27/9/2024; tạm giam: 06/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Hoàng Trọng T - sinh năm: 1997; số CCCD: [...]; nơi cư trú: thôn C, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Trọng D và con bà Nguyễn Thị C; vợ là Phạm Thị Q có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 27/9/2024; tạm giam: 06/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

4. Phan Văn Đ - sinh năm: 1997; số CCCD: [...]; nơi cư trú: thôn B, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phan Văn T1 và con bà Nguyễn Thị T2; vợ là Nguyễn Thị H có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 27/9/2024; tạm giam: 06/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

5. Nguyễn Văn H1 - sinh năm: 1985; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Ngách E H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông không có và con bà Nguyễn Thị H2; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 12/11/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 18/02/2020 TAND thành phố Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp với 18 tháng tù của bản án số 336/HSST ngày 12/11/2019. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án 54 tháng tù (đã chấp hành xong án phạt tù ngày 23/9/2022 và nộp án phí); tạm giữ: 28/9/2024; tạm giam: 07/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Hoàng Trọng T, Phan Văn Đ và Nguyễn Văn H1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26/9/2024, Nguyễn Văn P liên lạc zalo với Chu Ngọc S rủ mua ma túy về cùng sử dụng. Hai bên trao đổi, thống nhất về việc P đưa tiền cho S để mua ma túy, S đồng ý và điện thoại qua Mesenger với Hoàng Trọng T bàn bạc, trao đổi về việc mua ma túy của Nguyễn Văn H1 để sử dụng cùng S và P. S nói T đến ngã 5 Đ, thành phố T chờ gặp P để lấy tiền. Sau đó, T đi xe máy, nhãn hiệu ANGEL, BKS: 36K1-7814 qua rủ Phan Văn Đ đi cùng và đến gặp P. Tại đây P đưa cho T 200.000đ tiền mặt và chuyển vào tài khoản ngân hàng M2 số 30000139799 mang tên Phạm Thị Q (vợ của T, tài khoản này T sử dụng) với số tiền 500.000đ. Sau khi nhận tiền từ P, T và Đ cùng nhau đến nhà H1. Đến nơi, Đ đứng ngoài đợi, còn T một mình đi lại nhà H1 gặp H1, H1 đưa qua cửa số cho T 01 túi nilong, bên trong chứa ma túy đá. Tính đưa cho H1 300.000đ tiền mặt và 200.000đ chuyển vào tài khoản game mà H1 đưa để H1 nạp chơi game. Mua được ma túy, T cùng Đ ra về. Trên đường về, T gọi điện cho S và nói S chuẩn bị bộ dụng cụ để sử dụng và thống nhất gặp nhau gần nghĩa trang phường T, thành phố T. Biết đã mua được ma túy, S liên lạc với P nói đến nghĩa trang phường T để sử dụng ma túy. Sau đó, S cầm chai nhựa, cóng thủy tinh và bật lửa mang ra khu vực gần nghĩa trang phường T. Lúc sau T và Đ đến gặp S và cả ba cùng đi ra nghĩa trang phường T, thành phố T. Tại đây, T dùng điện thoại của mình bật đèn và đưa cho Đ cầm soi cho S lắp bộ dụng cụ, lắp xong thì T đổ ma túy đá vào cóng thủy tinh thì P đến. Tính dùng bật lửa châm, đốt ma túy cho T và P, S và Đ sử dụng. Sau đó, P lại cầm điện thoại soi để Đ châm lửa đốt ma túy cho S, P và Đ sử dụng. Sử dụng ma túy xong thì S tháo ống thủy tinh cầm mang về còn chai nhựa và bật lửa S ném tại nghĩa trang rồi cả bốn người ra về.

Ngày 27/9/2024, thi hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Ngọc S tại thôn B, xã T, thành phố T thu giữ: 01 ống thủy tinh màu trắng. Khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 vỏ túi nilong màu trắng tại nghĩa trang phường T, thành phố T.

Ngày 28/9/2024, Nguyễn Văn H1 đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T đầu thú và khai nhận hành vi bán ma túy cho Hoàng Trọng T vào đêm ngày 26/9/2024, đồng thời H1 giao nộp số tiền 500.000₫ bán ma túy cho T. Tiến hành test nước tiểu của H1 có dương tính với Methamphetamine. Lời khai của H1 phù hợp với lời khai của T và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được.

Về nguồn gốc số ma túy mà H1 bán cho T, H1 khai nhận: Chiều ngày 26/9/2024, H1 gọi điện cho Trần Văn C1, sinh năm 1991 nhà ở phố C, phường Đ, thành phố T (C1 ở cạnh nhà H1) nhờ C1 mua hộ cho H1 gói ma túy đá với giá 500.000đ, C1 đồng ý và nói H1 ra ngõ trước nhà sẽ có người đến bán. Lúc sau, H1 đi ra đầu ngõ trước nhà mình thì gặp một nam thanh niên khoảng 21- 22 tuổi, H1 không biết nhân thân, lai lịch của người thanh niên này, người này chỉ tay về phía gốc cây gần đó và nói H1 lại đó nhặt gói ma túy và để tiền ở gốc cây đó luôn. H1 đi lại nhặt gói ma túy đá và để 500.000đ đồng ở gốc cây rồi đi về nhà. H1 đã lấy ra một ít ma túy đá sử dụng một mình, số ma túy đá còn lại thì tối cùng ngày, H1 đã bán cho T.

Tại Bản kết luận giám định số 3649A/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetaime trong mẫu nước tiểu thu giữ của Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Hoàng Trọng T, Phan Văn Đ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại tạm giữ của các bị can trong vụ án, phát hiện tại các thư mục tin nhắn Zalo của P và T có nội dung trao đổi, bàn bạc, thống nhất với nhau về việc mua ma túy sử dụng. Tại thư mục tin nhắn Zalo của S và T có nội dung trao đổi, bàn bạc, thống nhất với nhau về việc mua ma túy sử dụng. Tại thư mục nhật ký cuộc gọi của P và S, giữa T và H1 có liên lạc với nhau vào thời điểm các đối tượng bàn bạc, trao đổi thống nhất về việc mua ma túy để cùng sử dụng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng mà T và P sử dụng để chuyển tiền mua bán ma túy. Kết quả phù hợp với lời khai nhận tội của bị can P và T cùng các tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập.

Về vật chứng thu giữ xử lý:

  • - Thu giữ số tiền 500.000đ, H1 tự nguyện giao nộp đã bán ma túy cho T.
  • - 01 ống thủy tinh màu trắng có một đầu phình to hình cầu.
  • - 01 nắp chai nhựa màu đỏ, có gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 vỏ nilong.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu xanh, số Imei 865222046774992; bên trong gắn sim số 0376159633 thu giữ của Chu Ngọc S.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng; Bên trong gắn sim số 0982863924 thu giữ của Phan Văn Đ.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu xanh, số Imei 8650390634286694; Bên trong gắn sim số 0989251643 thu giữ của P.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, số Imei 1: 867511058219195; số Imei 2: 867511058219187; Bên trong gắn sim số 0976060799 và 0396814997 thu giữ của Hoàng Trọng T.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen; Bên trong gắn sim số 0588572328 thu giữ của Nguyễn Văn H1. Toàn bộ vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu ANGEL, BKS: 36K1-7814 Tính đã dùng đi mua ma túy và đến địa điểm để sử dụng ma túy. Đây là xe của Hoàng Trọng G, sinh năm 1947, trú tại thôn C, xã T, thành phố T (là bác ruột của T). Ông G là người cho T mượn xe. Sau khi sử dụng ma túy, T đã mang về trả cho ông G. Việc T mượn xe để đi mua ma túy thì ông G không biết và không liên quan nên không có căn cứ để xử lý đối với ông G.

Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu Click, BKS: 36N9-7777 Phú đã dùng đi đến khu vực nghĩa trang phường T, thành phố T để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, P chở Chu Ngọc S về nhà S. Quá trình điều tra xác minh chiếc xe này là của anh Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1979, trú tại số nhà F L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Anh T4 có cho P mượn xe, việc P mượn xe máy của anh T4 để đến địa điểm sử dụng ma túy thì anh T4 không biết và không liên quan nên không đủ căn cứ xử lý đối với anh T4.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn H1, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc đối với Trần Văn C1, sinh năm 1991, trú tại Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, C1 khai báo: C1 và H1 là hàng xóm cạnh nhà nhau. Lâu nay, C1 đi làm ăn xa không có mặt tại nhà. Ngày 26/9/2024 H1 có liên lạc với C1 nhưng không phải nhờ mua hộ ma túy mà để thông báo tình hình sức khỏe của bố mẹ C1 cho C1 biết. C1 không trao đổi mua bán ma túy với H1 và không mua hộ cũng như không giới thiệu ai bán ma túy cho H1. Đối chất giữa H1 và C1, C1 không thừa nhận hành vi bán ma túy cho H1. Ngoài lời khai của H1 không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh C1 bán ma túy cho H1 nên không có căn cứ để xử lý đối với Trần Văn C1.

Đối với người nam thanh niên khoảng 21-22 tuổi bán ma túy cho H1 tại khu vực trước nhà H1 ở phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. H1 khai không biết tên, địa chỉ của người này. Xác minh, rà soát camera nhưng không phát hiện người thanh niên nào có đặc điểm như H1 khai báo nên không có căn cứ để xác định, xử lý.

Đối với ông Dương Bá N2, sinh năm 1953, trú tại Phố F, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là quản trang tại khu vực nghĩa trang phường T. Ông N2 chỉ dọn dẹp vào ban ngày, ban đêm không có phòng ngủ và trông coi, tại khu vực nghĩa trang không có tường rào bao quanh và không có đèn điện nên rất tối. Vào đêm ngày 26/9/2024 các bị can vào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ông N2 không biết và không có liên quan, nên không có căn cứ để xử lý đối với ông N2.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H1 ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố T để ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 23 nghị định 144/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2021.

Cáo trạng số 45/CT - VKS - TPTH ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Hoàng Trọng T, Phan Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS. Bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ và Hoàng Trọng T). Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS (đối với Nguyễn Văn H1); đề nghị xử phạt bị cáo Chu Ngọc S từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn P từ 08 năm đến 08 năm tháng tù; bị cáo Phan Văn Đ từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; bị cáo Hoàng Trọng T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 36 đến 42 tháng tù. Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Ngân hàng N3 500.000 đồng và 05 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động OPPO A5s, màu xanh, số Imel: 865222046774992, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Chu Ngọc S; 01 điện thoại Iphone Xs, màu vàng, số Imel: 357234099536850, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Phan Văn Đ; Một điện thoại di động OPPO A58, màu xanh, số Imel: 865039063428694, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động OPPO A92, số Imel: 867511058219195, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Hoàng Trọng T; 01 điện thoại di động OPPO A31, màu đen, số Imel: 862556046881635, thoại gắn kèm sim thu giữ của Nguyễn Văn H1.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cóng thuỷ tinh màu trắng; 01 nắp chai nhựa màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu trắng. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 26/9/2024 tại nghĩa trang phường T, thành phố T, Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ và Hoàng Trọng T có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn gốc số ma túy các bị cáo tổ chức sử dụng do Nguyễn Văn H1 bán cho Hoàng Trọng T với giá 500.000đ để kiếm lời.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của các bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ và Hoàng Trọng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do các bị cáo tổ chức sử dụng chất ma túy cho nhiều người, nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS. Bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.

[3] Tính chất chung vụ án: Tội phạm về ma túy và tệ nạn nghiện hút ma túy đã và đang ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Vì ma túy gây tác hại đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, kiệt quệ về kinh tế và phá vỡ hạnh phúc gia đình. Ngoài ra, ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác và gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS. Ma túy là mặt hàng Nhà nước ta đặc biệt nghiêm cấm, bất luận người nào phạm tội về ma túy đều phải trừng trị rất nghiêm khắc. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và sự trừng trị nghiêm khắc đó, biết rõ hậu quả về hành vi phạm tội, nhưng xem thường pháp luật, thiếu trách nhiệm với xã hội và chính gia đình mình.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước. Ngoài ra tội phạm này còn xâm phạm trật tự xã hội, ảnh hưởng sức khỏe người khác nên cần phải xử lý nghiêm minh.

[4] Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Trong vụ án này các bị cáo không có sự phân công chặt chẽ vai trò với nhau, nên được xác định phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn cũng chỉ vì mục đích nghiện chất ma tuý dẫn đến việc phạm tội. Bị cáo Nguyễn Văn P là người khởi xướng việc sử dụng ma tuý, đưa tiền cho Hoàng Trọng T đi mua ma tuý và dùng điện thoại soi đèn cho Phan Văn Đ đốt ma tuý cho Chu Ngọc S, P và Đ sử dụng nên xếp P ở vai trò đầu.

Chu Ngọc S là người giúp sức chuẩn bị công cụ để sử dụng ma tuý, rủ Hoàng Trọng T sử dụng ma tuý. Bị cáo Phan Văn Đ dùng điện thoại soi đèn để Chu Ngọc S lắp bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý và đốt ma tuý cho S, P và Đ sử dụng ma tuý. Còn bị cáo Hoàng Trọng T là người mua ma tuý, rủ Phan Văn Đ sử dụng ma tuý, trực tiếp đổ ma tuý vào bộ dụng cụ để S đốt ma tuý cho mọi người sử dụng, nên xếp cả 03 bị cáo S, T và Đ ở vai trò thứ 2.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 05 bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ, Hoàng Trọng T và Nguyễn Văn H1 đều không có tình tiết tăng nặng TNHS.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 05 bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ, Hoàng Trọng T và Nguyễn Văn H1 đều có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và sau khi phạm tội đến Cơ quan Công an đầu thú. Bị cáo Hoàng Trọng T có thêm tình tiết giảm nhẹ đã tham gia đóng góp ủng hộ Quỹ khuyến học, khuyến tài tại địa phương và gia đình bị cáo là người có công với cách mạng có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo Phan Văn Đ có thời gian tham gia trong quân đội và bố đẻ là người được hưởng chế độ người khuyết tật nặng có xác nhận của chính quyền địa phương. Các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, thì Nguyễn Văn P giữ vai trò chính, còn Chu Ngọc S được xếp ở vai trò thứ hai, nhưng S nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý hành chính nên xếp mức án của P và S bằng nhau là phù hợp. Còn bị cáo Đ và T có vai trò ngang nhau và có tình tiết giảm nhẹ như nhau, nên xếp mức án của T và Đ bằng nhau là phù hợp.

Còn bị cáo Nguyễn Văn H1 phải chịu hình phạt về hành vi độc lập đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

[7] Về vật chứng: Đối với 01cóng thuỷ tinh màu trắng; 01nắp chai nhựa màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng, cùng với 01 chiếc điện thoại di động OPPO A5s (thu được Chu Ngọc S); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 (thu được Nguyễn Văn P); 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, (thu của Phan Văn Đ); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 (thu được Hoàng Trọng T) và tiền Ngân hàng N3 500.000 đồng là công cụ, phương tiện dùng vào phạm tội, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy 01 cóng thuỷ tinh màu trắng; 01 nắp chai nhựa màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu trắng. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 05 chiếc điện thoại và số tiền 500.000 đồng.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS (đối với Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Hoàng Trọng T và Phan Văn Đ). Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS (đối với Nguyễn Văn H1); điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (đối với cả 05 bị cáo).

Tuyên bố: Các bị cáo Chu Ngọc S, Nguyễn Văn P, Phan Văn Đ, Hoàng Trọng T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Chu Ngọc S 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
  2. Bị cáo Nguyễn Văn P 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 27/9/2024.
  3. Bị cáo Phan Văn Đ 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
  4. Bị cáo Hoàng Trọng T 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
  5. Bị cáo Nguyễn Văn H1 42 (bốn hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2024.

Về vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Ngân hàng N3 500.000 đồng và 05 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động OPPO A5s, màu xanh, số Imel: 865222046774992, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Chu Ngọc S; 01 điện thoại Iphone Xs, màu vàng, số Imel: 357234099536850, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Phan Văn Đ; Một điện thoại di động OPPO A58, màu xanh, số Imel: 865039063428694, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động OPPO A92, số Imel: 867511058219195, điện thoại gắn kèm sim thu giữ của Hoàng Trọng T; 01 điện thoại di động OPPO A31, màu đen, số Imel: 862556046881635, thoại gắn kèm sim thu giữ của Nguyễn Văn H1.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cóng thuỷ tinh màu trắng; 01 nắp chai nhựa màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu trắng.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng số 52/2025/THA ngày 22 tháng 01 năm 2025.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • -VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • -VKSND TPTH;
  • - Công an T;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/HSST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 92/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger