Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/DS-PT

Ngày: 14/02/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt;

Ông Lê Minh Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 542/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 112/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5112/2024/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 241/2025/QĐPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • - Võ Văn D, sinh năm 1964. (Có mặt)
  • - Võ Văn R, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

(Ông R ủy quyền cho ông D tham gia tố tụng trong vụ án. Ông D có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Võ Văn R: Bà Đỗ Thị T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)

Bị đơn: Võ Văn M, sinh năm 1941.

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

  • - Võ Văn P, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
  • - Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997; Nơi thường trú: ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Địa chỉ liên hệ: Công ty L1 Chi nhánh M3, A Đường số C, khu dân cư S, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
  • - Ngô Nhật T2, sinh năm 1995; Nơi thường trú: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ liên hệ: Công ty L1 Chi nhánh M3, A Đường số C, khu dân cư S, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
  • - Trần Quang K, sinh năm 1996; Nơi thường trú: 7D Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên hệ: Công ty L1 Chi nhánh M3, A Đường số C, khu dân cư S, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị M1 của Công ty L1 CHI NHÁNH MIỀN TÂY thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Trần Thị G, sinh năm 1965. Địa chỉ: C, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Võ Thị X, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Võ Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
  • - Trần Thị B, sinh năm 1969. Địa chỉ: C, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.

(Bà G, bà X, bà N, bà B ủy quyền cho ông Võ Văn D tham gia tố tụng. Ông D có mặt).

  • - Võ Thị N1, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
  • - Võ Thị B1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
  • - Võ Thị M2, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
  • - Võ Thị C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

Người kháng cáo: Võ Văn M, là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2022, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Văn R là bà Đỗ Thị T trình bày:

Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, diện tích 2241m² tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre do cụ Võ Văn B2 đứng tên chủ sử dụng, diện tích tranh chấp đo đạc thực tế 276,7m² có nguồn gốc từ đất của địa chủ Pót.

Nguyên trước đây, cha ông Võ Văn D và ông Võ Văn R là cụ Võ Văn S (cụ S là anh ruột của cụ Võ Văn B2) có một phần đất diện tích khoảng 383m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B. Phần đất này có nguồn gốc địa chủ Pót tạo lập. Đất của cha ông D, ông R liền kề với đất của cụ Võ Văn B2 (phần đất của cụ B2 cũng là của địa chủ P1). Hàng năm, cụ S và cụ B2 đóng thuế đất cho địa chủ đến năm 1950, địa chủ không thu tiền đất nữa nên cụ S và cụ B2 tự quản lý, sử dụng phần đất này. Đến năm 1980, cụ S chết, cụ S cho hai người con trai là ông Võ Văn R, ông Võ Văn D phần đất này (cụ S chỉ cho miệng), từ đó ông D, ông R trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến khi phát sinh tranh chấp. Cụ Võ Văn S có 05 người con gồm: bà Võ Thị L, bà Võ Thị X, bà Võ Thị N, ông Võ Văn D và ông Võ Văn R. Tất cả chị em ông D, ông R đều đồng ý việc cụ S cho ông D, ông R phần đất này. Năm 2019 bà Võ Thị L chết, hàng thừa kế thứ nhất của bà L gồm Trần Thị G và Trần Thị B cũng đồng ý việc ông bà để lại đất cho ông D, ông R.

Khi Nhà nước yêu cầu đăng ký kê khai lần đầu, ông D và ông R đều không biết cụ Võ Văn B2 đã đăng ký luôn phần đất của cụ S cho ông D, ông R nên đo đạc thành lập bản đồ địa chính lần đầu đã đo nhập phần đất của cụ S vào chung phần đất của gia đình cụ B2 thành thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Năm 2004, cụ Võ Văn B2 chết, phần đất của cụ B2 do con cụ Võ Văn B2 là ông Võ Văn M trực tiếp quản lý, sử dụng.

Khoảng tháng 3/2018 (âm lịch), ông Võ Văn R được chính quyền địa phương hỗ trợ xây dựng nhà tình thương. Đến ngày 28/3/2018 (âm lịch) ông R khởi công xây lại nhà mới do căn nhà cha mẹ ông để lại đã cũ nát thì phía ông Võ Văn M (con của cụ B2) ra ngăn cản, đập phá toàn bộ phần nền nhà vừa xây xong. Lúc này ông D, ông R mới biết toàn bộ phần đất mà các ông đã và đang quản lý, sử dụng hơn 70 năm qua đã bị cụ Võ Văn B2 đăng ký kê khai, đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Sau đó ông D, ông R có làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện B yêu cầu thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550718-001894 của hộ cụ Võ Văn B2.

Đến ngày 02/02/2021, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành quyết định số 258/QĐ-UBND về việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550718-001894 của hộ cụ Võ Văn B2 vì trong phần diện tích đất cấp cho hộ cụ B2 có phần đất của ông Võ Văn R và ông Võ Văn D quản lý, sử dụng.

Mặc dù Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành quyết định thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ cụ Võ Văn B2 nhưng ông D, ông R vẫn bị ông Võ Văn M ngăn cản quyền sử dụng đất, mỗi lần ông D và ông R làm gì ông M cũng đều cản phá, xua đuổi ra khỏi phần đất và chiếm đoạt phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 276,7m² của ông D, ông R.

Nay ông Võ Văn D và ông Võ Văn R yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc ông Võ Văn M phải trả lại cho ông D và ông R phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn có nhận được kết quả đo đạc (họa đồ hiện trạng thửa đất đang tranh chấp ngày 23/01/2024) và kết quả định giá của Hội đồng định giá đã định. Nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc và kết quả định giá.

Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2022, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Võ Văn D trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Võ Văn R và không trình bày gì thêm.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Võ Văn M là ông Võ Văn P trình bày:

Phần đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, diện tích 2241m², tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre thuộc quyền sử dụng của cụ B2 là cha của ông M để lại cho ông M và do ông M quản lý, sử dụng ổn định từ trước đến nay không có ai ngăn cản hay tranh chấp. Nguồn gốc của thửa đất nêu trên là do cụ Võ Văn B2 nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn X1 từ năm 1949.

Sau đó, cụ Võ Văn S (cụ S là cha của ông Võ Văn D và ông Võ Văn R) có xin cụ B2 được ở tạm trên phần đất này cho đến hết đời. Do thấy cụ S có hoàn cảnh khó khăn nên cụ B2 đồng ý cho gia đình cụ S ở tạm trên phần đất thuộc một phần của thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B đến hết đời thì trả lại cho cụ B2. Sau khi cụ B2 chết, ông Võ Văn M là người trực tiếp quản lý sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B. Cụ B2 và ông M khi quản lý, sử dụng phần đất nêu trên đều có đóng thuế. Cụ S khi ở tạm trên phần đất nêu trên có xây dựng một căn nhà tạm để ở. Sau khi cụ S chết, ông Võ Văn R (con cụ S) tiếp tục ở trên căn nhà mà cụ S cất tạm. Nay nguyên đơn yêu cầu ông M phải trả lại cho nguyên đơn phần đất có diện tích đo đạc thực tế 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre là không có căn cứ và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M.

Nay ông M chỉ đồng ý để nguyên đơn được sử dụng phần đất có diện tích là 138,3m² (1/2 phần đất qua đo đạc thực tế 276,7m²) thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, phần diện tích còn lại thuộc thửa đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông M nên ông M không đồng ý giao cho nguyên đơn.

Khi còn sống, cụ Võ Văn B2 có làm giấy ủy quyền để lại toàn bộ phần đất thuộc thửa đất số 756 cho ông Võ Văn M được quản lý, sử dụng sau khi cụ B2 mất. Các con của cụ B2 gồm: bà Võ Thị N1, bà Võ Thị M2, bà Võ Thị B1, bà Võ Thị C đều có gia đình riêng và sinh sống bên chồng nên không có ý kiến gì về việc ông M được quản lý và sử dụng phần đất nêu trên. Các bà N1, bà M2, bà B1, bà C có làm giấy ủy quyền cho ông M được toàn quyền quản lý, sử dụng thửa đất 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn có nhận được kết quả đo đạc (họa đồ hiện trạng thửa đất đang tranh chấp ngày 23/01/2024) và biết được kết quả định giá của Hội đồng định giá đã định. Bị đơn đồng ý với kết quả đo đạc và kết quả định giá.

Tại văn bản trình bày ý kiến đề các ngày 27/5/2024 và 28/5/2024, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị G1, bà Võ Thị B3, bà Võ Thị N, bà Võ Thị X trình bày:

Các bà thống nhất nguồn gốc đất theo lời trình bày của nguyên đơn, các bà không có tranh chấp trong vụ kiện, phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ S để lại thì các bà đồng ý để ông D và ông R nhận thừa kế, các bà từ chối nhận thừa kế phần diện tích đất đang tranh chấp. Các bà đã ủy quyền cho ông D tham gia tố tụng trong vụ án nên mọi ý kiến trình bày của ông D cũng là ý kiến của các bà.

Tại biên bản làm việc vào các ngày 11/6/2024 và 04/7/2024, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1, bà Võ Thị M2, bà Võ Thị B1, bà Võ Thị C trình bày:

Các bà là con ruột của cụ Võ Văn B2. Cụ B2 có 05 người con gồm: ông Võ Văn M, bà Võ Thị M2, bà Võ Thị N1, bà Võ Thị B1 và bà Võ Thị C. Phần đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc trước đây do cụ B2 mua lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997. Do thấy hoàn cảnh của cụ Võ Văn S (cụ S là cha của ông Võ Văn D và ông Võ Văn R) có khó khăn nên cụ B2 cho gia đình cụ S ở tạm trên phần đất đang tranh chấp. Cụ S có cất một căn nhà nhưng sau này đã bị sập và tháo dỡ. Sau khi cụ B2 mất, ông Võ Văn M là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do ông M có nhiều con nên các bà thống nhất đồng ý cho ông M được thừa kế phần đất của cụ B2 để lại. Các bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với phần đất thuộc thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Các bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án và từ chối tham gia tố tụng, yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Áp dụng khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phía và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện các nguyên đơn ông Võ Văn R, ông Võ Văn D. Buộc bị đơn ông Võ Văn M trả lại cho ông Võ Văn R, ông Võ Văn D diện tích đất qua đo đạc thực tế 276,7m² (phần 2 họa đồ đo đạc ngày 23/01/2024) thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 80, 70, 67 tờ bản đồ số 3) tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Ông Võ Văn R và ông Võ Văn D đồng sử dụng đối với diện tích đất qua đo đạc thực tế 276,7m² (phần 2 họa đồ đo đạc ngày 23/01/2024) thuộc một phần thửa 756, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 80, 70, 67 tờ bản đồ số 3) tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre và được quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Kèm họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 23/01/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/8/2024, ông Võ Văn M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm. Ông M không biết việc thửa đất 756 bị thu hồi theo Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B cho đến tại phiên toà sơ thẩm mới biết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất đang tranh chấp theo đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre, nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại toà nguyên đơn đều xác định phần đất tranh chấp do các nguyên đơn đang quản lý, sử dụng, nguồn gốc do cụ S (cha của nguyên đơn) quản lý, sử dụng từ trước năm 1950 cho đến khi cụ S chết năm 1980, sau đó cụ S để lại cho các nguyên đơn quản lý, sử dụng cho đến nay, việc các nguyên đơn đang quản lý, sử dụng đất nhưng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại đất là yêu cầu khởi kiện không phù hợp; mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm chỉ thụ lý yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả lại phần đất tranh chấp, các nguyên đơn không yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp cho các nguyên đơn cũng không yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất tranh chấp, nhưng bản án sơ thẩm tuyên công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp cho các nguyên đơn là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh với người dân địa phương xác nhận biết việc cụ B2 mua đất và cụ B2, cụ S cùng quản lý, sử dụng đất, bị đơn có cung cấp giấy tờ mua đất và các giấy tờ đóng thuế để chứng minh phần đất này của cụ B2. Bản án sơ thẩm đã tuyên làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Võ Văn D đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Võ Văn R trình bày: Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre do các nguyên đơn đang quản lý, sử dụng, từ trước năm 1950 do cụ Võ Văn S quản lý, sử dụng, sau khi cụ S chết thì các nguyên đơn quản lý sử dụng, do đó các nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Võ Văn R là bà Đỗ Thị T trình bày: Các nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre do các nguyên đơn quản lý, sử dụng từ trước đến nay nhưng nay bị đơn ngăn cản khiến các nguyên đơn không sử dụng đất được nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại đất là có cơ sở. Cụ S không biết việc cụ B2 kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp trên, sau này khi ông M ngăn cản ông D và ông R sử dụng đất thì ông D và ông R mới biết nên đã làm đơn khiếu nại Ủy ban nhân dân huyện B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ B2 đối với thửa đất 756 và Ủy ban nhân dân huyện B đã có Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550718-001894 của hộ ông Võ Văn B2. Tại Quyết định đã khẳng định quá trình quản lý sử dụng đất của cụ S và các con là ông D và ông R, khẳng định phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cụ S. Ông M cho rằng không biết về Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B là không có cơ sở, do sau khi có Quyết định, các nguyên đơn có làm đơn đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất, quá trình đo đạc để được cấp giấy chứng nhận thì ông M ngăn cản nên ông M đã biết sự việc. Đối với các giấy tờ đóng thuế do bị đơn cung cấp không xác định được thửa đất nào, các văn bản xác nhận của bị đơn cung cấp tại toà không có xác thực chữ ký của người xác nhận nên không đủ cơ sở để xem xét. Bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định và toàn diện vụ án nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • - Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 192, khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn Võ Văn M, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Võ Văn M có kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Trần Quang K, Ngô Nhật T2, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1, Võ Thị B1, Võ Thị M2, Võ Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.

Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn T1 xác định tham gia phiên toà phúc thẩm với tư cách là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Võ Văn M, xin chấm dứt tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn ông Võ Văn D và ông Võ Văn R yêu cầu ông Võ Văn M phải trả lại cho ông D và ông R phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên theo đơn khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756 nói trên hiện tại do các nguyên đơn là ông Võ Văn D, Võ Văn R quản lý, sử dụng; cụ thể trước đây do cụ S quản lý, sử dụng, sau khi cụ S chết thì các nguyên đơn quản lý, sử dụng. Sự thừa nhận của các đương sự phù hợp với hồ sơ quy trình thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550718-001894 của hộ ông Võ Văn B2 do Ủy ban nhân dân huyện B cung cấp và phù hợp với hiện trạng sử dụng đất có căn nhà tạm của ông R, hồ nước và cây trồng của các nguyên đơn trên phần đất đang tranh chấp.

Ngoài ra, Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550718-001894 của hộ ông Võ Văn B2, thường trú ấp A, xã A, tỉnh Bến Tre, trong đó đã nêu lý do thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: “Phần đất đang khiếu nại thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, xã A có nguồn gốc địa chủ tạo lập. Trước năm 1950, ông Võ Văn B2 và ông Võ Văn S (anh ruột ông B2, cha của ông Võ Văn R và ông Võ Văn D) đều là người thuê đất của địa chủ và đóng thuế hàng năm. Đến năm 1950, địa chủ không thu tiền thuê đất nữa nên cả ông B2 và ông S tự quản lý, sử dụng phần đất hai ông thuê của địa chủ. Gia đình ông S đã trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ trước năm 1950 đến năm 1980, vợ chồng ông S chết để lại cho các con ông quản lý, sử dụng ổn định đến nay. Tuy nhiên do thời điểm đo đạc thành lập bản đồ địa chính lần đầu đo nhập phần đất của gia đình ông S vào chung phần đất của gia đình ông B2 tạo thành thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, xã A, khi ông B2 có đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này, Hội đồng xét duyệt đất đai xã không thẩm tra lại hiện trạng mà xác nhận đủ điều kiện và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C1 giấy chứng nhận cho ông B2 là không đúng quy định của Luật Đất đai năm 1993. Theo Khoản 3 Điều 36 Luật Đất đai năm 1993 quy định: Trong cùng thửa đất có nhiều cá nhân không cùng hộ gia đình hoặc không cùng một tổ chức sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đến từng tổ chức, từng hộ gia đình, từng cá nhân. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 756, tờ bản đồ số 2, xã A cho hộ ông Võ Văn B2 là chưa đúng quy định của pháp luật do có một phần thửa đất chưa đúng chủ sử dụng”. Tại toà, các nguyên đơn thừa nhận phần đất thuộc thửa đất số 756 bị thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định nói trên là phần đất mà cụ S đã cất nhà ở trước đây từ trước năm 1950, sau này cụ S chết thì do ông R và ông D tiếp tục ở, qua đo đạc thực tế có diện tích 276,7m² là phần đất đang tranh chấp trong vụ án. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông M là ông Võ Văn P xác định ông M biết Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 756 từ khi tranh chấp phát sinh vào năm 2021, đến tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông M là ông Nguyễn Văn T1 trình bày đến tại phiên toà sơ thẩm ông M mới biết sự việc, tuy nhiên hiện tại cho đến nay ông M không có khiếu nại, khởi kiện đối với Quyết định trên. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp đã được giải quyết bằng một Quyết định của cơ quan có thẩm quyền, trong Quyết định đã xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là do gia đình ông S trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước năm 1950 đến năm 1980, vợ chồng ông S chết để lại cho các con ông quản lý và sử dụng ổn định đến nay, thời điểm đo đạc thành lập bản đồ địa chính lần đầu đo nhập phần đất của gia đình ông S vào chung phần đất của gia đình ông B2 nên việc cấp giấy chứng nhận đối với một phần thửa đất số 756 chưa đúng chủ sử dụng. Do đó, trường hợp nếu Quyết định trên có hiệu lực pháp luật theo quy định thì căn cứ theo Quyết định nêu trên, lẽ ra các nguyên đơn phải liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thi hành Quyết định để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn đối với phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 756 mà các nguyên đơn đang quản lý sử dụng, tuy nhiên các nguyên đơn lại khởi kiện vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là không phù hợp.

Từ các phân tích trên, xét thấy các nguyên đơn đang là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp nên các nguyên đơn không có quyền khởi kiện vụ án về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Việc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu ông Võ Văn M trả lại phần đất có diện tích qua đo đạc là 276,7m² thuộc một phần thửa đất số 756, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre là không phù hợp quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

Do huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nên không xem xét đến yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

[3] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị huỷ bản án sơ thẩm là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Văn R không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Do huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 308, Điều 218, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 542/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là: 9.991.000 đ (chín triệu chín trăm chín mươi mốt nghìn đồng) do nguyên đơn ông Võ Văn R và ông Võ Văn D phải chịu và đã nộp xong.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho ông Võ Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0001473 ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Ba Tri;
  • - CCTHADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 92/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap quyen su dung dat giua Vo Van R va Vo Van M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger