Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 13 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Xuân Huế. Nghề nghiệp: Giáo viên Trường THPT Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
  • Ông Đậu Xuân Quý. Nghề nghiệp: Phó Trưởng phòng Tài chính kế hoạch UBND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Trung Đ

Sinh ngày 24 tháng 10 năm 2006 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Đắc C. Sinh năm 1957. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Ông Phan Văn Â, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Quý A. Sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Hồ Viết V. Sinh năm 1987. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Hữu H. Sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 16/10/2024, Nguyễn Văn Trung Đ câu cá ở đập Khe Đình thuộc xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì thấy lực lượng Công an xã N đi tuần tra nên Đ bỏ chạy về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe máy điện đến đập K để xem câu cá. Khi đi đến đầu bờ đập, Đ gặp anh Nguyễn Quý A đang điều khiển xe máy điện đi cùng chiều phía trước. Do xe máy điện gần hết pin nên Đ dừng xe ở đầu bờ đập rồi ngồi lên xe máy điện của Nguyễn Quý A để đi vào bờ đập. Khi đến nơi, Đ và Quý A ngồi xem anh Hồ Viết V và anh Nguyễn Hữu H câu cá. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ thấy một chiếc bật lửa gas màu đỏ và gói thuốc lá trên mặt đất nên Đ nảy sinh ý định đốt cây rơm của nhà ông Nguyễn Đắc C vì Đ cho rằng gia đình ông C đã báo Công an xã N đến tuần tra lúc Đ đang câu cá tại đập K vào buổi sáng. Sau đó, Đ cầm chiếc bật lửa rồi nhờ anh Nguyễn Quý A chở qua bờ tràn của đập (Quý A không biết mục đích của Đ), nhưng khi đến đầu bờ tràn do có nước chảy nhiều không thể đi xe qua được nên Quý A dừng xe lại, Đ đi bộ qua bờ tràn hướng về đường liên xóm X, còn Quý A đi về nhà. Khi Đ đi bộ đến trước cổng nhà ông C, thấy đèn trong nhà đã tắt nên Đ vượt qua bờ tường rào rồi đi vào khu vực vườn nhà ông C thì phát hiện có 01 (một) cây rơm được sắp xếp xung quanh cột bê tông cao 3,5m, 01 (một) cây rơm được sắp xếp xung quanh cột bê tông cao 1,6m của gia đình ông Nguyễn Đắc C và 01 (một) chiếc thuyền nhựa Composite, màu xanh lá cây, dài 3,9m, phần giữa rộng nhất là 1m, phần hai đầu cùng có chiều rộng 0,55m, sâu 0,3m của ông Phan Văn  gửi tại nhà ông C. Sau đó, Đ dùng bật lửa đốt phía dưới gốc cây rơm cao 3,5m. Khi thấy cây rơm đã cháy thì Đ vượt qua tường rào rời khỏi nhà ông C rồi đi bộ đến đập Khe Đ1 và vứt chiếc bật lửa xuống đập rồi điều khiển xe máy điện đi về nhà. Hậu quả: cây rơm được sắp xếp xung quanh một cột bê tông cao 3,5m của gia đình ông Nguyễn Đắc C bị cháy hoàn toàn; đám cháy lan ra khiến phần đáy chiếc thuyền nhựa Composite, màu xanh lá cây của ông Phan Văn  bị cháy (than hóa màu đen), vùng cháy có kích thước 2,75m x 1,3m, phần giữa thuyền bị hư hỏng có vết lõm sâu 0,2m, không còn giá trị sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1726/KL-HĐĐG ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận:

“01 (một) thuyền nhựa Composite, màu xanh lá cây, kích thước: dài 3,9m, phần giữa rộng nhất là 1m, phần hai đầu cùng có chiều rộng 0,55m, sâu 0,3m; chiếc thuyền được mua mới và sử dụng từ năm 2023 tại thời điểm bị hủy hoại ngày 16/10/2024 có giá trị là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

01 (một) cây rơm có đặc điểm: được tạo từ thân cây lúa đã gặt (tách hết hạt, phơi khô) trên diện tích 6 sào Trung bộ (tương đương 3000m²) vào vụ Đông Xuân năm 2024 (khoảng tháng 6/2024), được sắp xếp xung quanh một cột bê tông cao 3,5m, tình trạng đã qua sử dụng tại thời điểm bị hủy hoại ngày 16/10/2024 có giá trị là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng)” .

Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS-NĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố Nguyễn Văn Trung Đ về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Trung Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Trung Đ đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người làm chứng nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Trung Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 16/10/2024, tại nhà ông Nguyễn Đắc C ở xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Trung Đ đã sử dụng chiếc bật lửa gas màu đỏ đốt cây rơm được sắp xếp xung quanh cột bê tông cao 3,5m, trị giá 1.500.000 đồng của gia đình ông Nguyễn Đắc C khiến cây rơm bị cháy hoàn toàn; phần đáy chiếc thuyền nhựa Composite, màu xanh lá cây, trị giá 4.000.000 đồng của ông Phan Văn  bị cháy (than hóa màu đen), vùng cháy có kích thước 2,75m x 1,3m, phần giữa thuyền bị hư hỏng có vết lõm sâu 0,2m, không còn giá trị sử dụng. Tổng giá trị thiệt hại tài sản là 5.500.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn Trung Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần xử nghiêm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại. Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội đầu thú. Là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 17 tuổi 11 tháng 22 ngày nên bị cáo được hưởng quy định tại Chương XII – Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Các đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Trung Đ: 9 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Huỷ hoại tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13 tháng 12 năm 2024).
  2. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  5. Về vật chứng: Không xem xét.
  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Trung Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Nam Đàn;
  • - Cơ quan điều tra, Thi hành án hình sự - Công an huyện Nam Đàn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Trung Duc - Huỷ hoại hoặc Cố ý làm hư hổng tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger