|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 04 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân:
| 1. Ông Nguyễn Chí Vương | 2. Bà Phan Thị Vui |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm 2004 tại: Campuchia.
Tên gọi khác: Không ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Không Quốc tịch; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12.
Nơi thường trú, nơi tạm trú: Không có.
Nơi ở hiện tại: Tổ G, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1969, Mẹ: Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1971; Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2010; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 08/6/2024 bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, đến ngày 17/6/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay.
2. Phạm Văn B, sinh năm 1994 tại: Campuchia.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Không Quốc tịch; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12.
Nơi thường trú, nơi tạm trú: Không có.
Nơi ở hiện tại: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Cha: Phạm Văn C, sinh năm 1967, Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1997; bị cáo có vợ là Võ Thị L, sinh năm 2003; Bị cáo có con là Võ Văn K, sinh năm 2020 và Võ Văn M, sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 08/6/2024 bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, đến ngày 17/6/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và Phạm Văn B là bạn bè, quen biết nhau từ trước; đồng thời đều là người sử dụng ma túy, nguồn ma túy do H và B mua của một số đối tượng không rõ lai lịch để sử dụng.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, Nguyễn Văn H và Phạm Văn B đi ăn tại quán mì cay “T1” ở ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, H rủ B cùng góp tiền mua ma túy về sử dụng thì B đồng ý, cả hai thống nhất mỗi người góp số tiền 250.000đ để mua ma túy về sử dụng. Sau khi góp được số tiền 500.000đ, Phạm Văn B giữ tiền và điều khiển xe môtô biển số: 70E1 – 685.64 (nhãn hiệu S1), chở H đi đến khu vực gần bến đò thuộc ấp I, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước gặp một nam thanh niên tên C1 (không rõ lai lịch) mua được một gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu ma túy vào túi quần bên phải rồi B điều khiển xe môtô chở H đi về nhà để chia đôi số ma túy mua được rồi của ai thì mang về nhà để sử dụng một mình. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ E, ấp I, xã T, huyện H thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ gói ma túy mà H cất giấu trong người.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H và Phạm Văn B xác định mục đích đi mua ma túy về để sử dụng chứ không có mục đích gì khác.
Xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn H và Phạm Văn B cho kết quả dương tính, có sử dụng ma túy.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn H và Phạm Văn B đã khai nhận hành vi vi phạm của mình.
Căn cứ Bản kết luận giám định số: 602 ngày 13/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 5,3808 gam.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Đối với 5,3808gam chất ma túy loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 4,3936 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 602/2024 ngày 09 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Suzuki Satria, Biển số: 70E1 – 685.64 thu giữ của Phạm Văn B: Quá trình điều tra xác định xe môtô trên do ông Trần Văn L1, sinh năm: 1966 là chủ sở hữu hợp pháp. Ông L1 không liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Văn B. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe môtô trên cho ông Trần Văn L1.
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9i màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên do mẹ của Nguyễn Văn H là bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1971, chỗ ở: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là chủ sở hữu hợp pháp. Bà Ú không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho bà Nguyễn Thị Ú.
- Đối với 01 mảnh giấy bạc, đây là đồ vật không có giá trị sử dụng. Đây là những đồ vật không còn giá trị. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS đề nghị Tòa án tịch thu và tiêu hủy
* Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 16/10/2024, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (S) năm tù.
Xử phạt các bị cáo Phạm Văn B mức án từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù.
* Đề nghị xử lý vật chứng:
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên đề nghị về sử lý vật chứng và vấn đề dân sự như nội dung bản cáo trạng.
Các bị cáo tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng nên hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn B khai nhận phù hợp với tình tiết của vụ án, như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 08/6/2024, Nguyễn Văn H và Phạm Văn B đã bàn bạc, thống nhất góp được số tiền 500.000 đồng để mua 01 gói ma túy về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Văn H và Phạm Văn B đang đi trên đường thuộc khu vực ấp I, xã T, huyện H thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói ma túy trên người của H. Qua giám định xác định số ma túy thu giữ của H và B, có khối lượng 5,3808 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, cho thấy các bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật nên cần xử mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đủ tính răn đe của pháp luật; cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn; các bị cáo là bạn của nhau, cùng làm việc với nhau và cùng rủ nhau đi mua ma túy để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo H là người chủ động rủ rê bị cáo B cùng góp tiền đi mua ma túy nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn bị cáo B.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung cáo trạng là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Trách nhiệm dân sự: Không có nên không đề cập đến.
[8] Án phí: Các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Các điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày 08/6/2024.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 05 (năm) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 08/6/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 602/2024 ngày 09 tháng 6 năm 2024 bên trong có chứa 4,3936 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc khong nhãn mác, đã cũ.
(Vật chứng được mô tả và được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Quyết định chuyển vật chứng số 68/QĐ-VKS ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.)
Các vật chứng khác đã được Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện H xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm thgeo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
