Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 28 - 11 - 2024

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.

  • Các Hội thẩm nhân dân:Ông Triệu Kiên Toàn và ông Nguyễn Đăng Thiệu.

-Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại nhà văn hóa tổ dân phố T1, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn S, sinh ngày 08/4/1979 (tên gọi khác: Không); nơi sinh và cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Đỗ Văn S1 (đã chết); mẹ đẻ: Đỗ Thị D, sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1979; con: Có 02 con: con lớn, sinh năm 1999; con nhỏ, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: + Tại Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC ngày 03/02/2005 Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt xong ngày 03/02/2005 (đã được xóa tiền sự).

+ Tại bản án số 36/2010/HSST ngày 23/8/2010, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc. Ngày 30/9/2019 chấp hành án phí và các quyết định của bản án; ngày 23/11/2011 chấp hành xong thời gian thử thách của án treo (dã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Quý L, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người chứng kiến: Ông Lê Anh T, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/8/2024, Đỗ Văn S đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực hồ N thuộc thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy loại heroin với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, S cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái đi bộ tìm nơi sử dụng, khi S đi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Công an tỉnh V phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay trái của S đang cầm 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy kẻ ô ly, bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). S khai là gói ma túy vừa mua được với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số 2476/KLGĐ ngày 27/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận:

“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,2711g (Không phảy hai bảy một một gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (H).

Heroine (H) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất”.

Về nguồn gốc ma túy S khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực hồ N thuộc thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc do S không biết rõ tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 91/CT-VKS- MT ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn S từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2024; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0, 1587g.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 17 giờ ngày 23/8/2024, tại đường liên thôn thuộc tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Đỗ Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy theo kết luận giám định loại Heroine có khối lượng 0,2711g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Đỗ Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh V; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • ... c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Đỗ Văn S là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Năm 2005 đã bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, năm 2010 bị cáo lại bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 03 tháng về tội Đánh bạc mặc dù đã được xóa tiền sự và án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo còn nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1587g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho S, do S không biết rõ tên tuổi địa chỉ người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp pháp luật.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn S 01 (Một) năm 07 (B) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1587gam (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 11 năm 2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đỗ Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch;
  • - Công an huyện Lập Thạch; Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Lập Thạch;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND thị trấn Lập Thạch;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Sản tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger