|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Trần Hà Bắc;
- - Ông Nguyễn Văn Bốn.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cao - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn Đ, sinh năm 1995, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Trần Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-6-2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Nam Định “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00' ngày 20-6-2024, Phan Văn Đ điện thoại cho Lê Văn P, Đ hỏi Pháp đã uống Methadone chưa, Pháp trả lời là chưa. Đương rủ P đến nhà Đ cùng sử dụng ma túy thì P đồng ý. Sau đó Đ gọi cho Đoàn Xuân A, rủ A đến nhà Đ sử dụng ma túy, A đồng ý. Khoảng 20 phút sau P đạp xe đến nhà Đ, Đ bảo P ngồi nhà Đ chờ, một mình Đ điều khiển xe mô tô ra khu vực đê biển xã G để mua ma túy, Đ mua một gói hêrôin với giá 300.000 đồng của một người không biết tên tuổi địa chỉ. Đương cất gói hêrôin vào túi quần và đi về, Trên đường đi về nhà Đương qua hiệu thuốc tây “Thoan Phong” ở xóm X xã G mua 4 lọ nước cất, và 03 xi lanh với giá 15.000 đồng rồi đi về nhà thì thấy A đang đứng ngoài sân, Pháp đang ngồi trước cửa nhà. Đương dẫn Pháp, A vào giường ngủ của mình, Đ bỏ gói hêrôin, nước cất, xi lanh trên giường ngủ, sau đó Đ lấy một lượng hêrôin đổ vào xi lanh số còn lại Đương để trên giường rồi lấy 01 xi lanh khác hút nước từ 02 lọ nước cất bơm vào xi lanh có chứa hêrôin sau đó Đương lắc đều cho hêrôin tan ra, Đ chia đều lượng dung dịch hêrôin vào 03 xi lanh rồi đưa cho A và P mỗi người 01 xi lanh để cùng nhau chích, đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện G phát hiện bắt quả tang.
Cơ quan đều tra đã thu giữ tại giường nhà Đương 01 gói giấy vở học sinh bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M; 03 xi lanh bên trong đều chứa chất lỏng màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1; 02 lọ nước cất đã qua sử dụng; 02 nước cất chưa qua sử dụng. Ngoài ra Công an còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, thu giữ của A một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, thu giữ của Pháp một điện thoại Newday, thu giữ 03 mẫu nước tiểu của Đ, A và Pháp.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu chất bột dạng cục màu trắng, mẫu chất lỏng màu trắng và mẫu nước tiểu.
Tại Bản kết Luận giám định số:1179/KL/GĐKTHS ngày 27-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong một gói giấy vở học sinh được niêm phong ký hiệu M gửi đi giám định là ma tuý, loại ma tuý là hêrôin. Khối lượng mẫu M: 0,064 gam.
Đều tìm thấy thành phần hêrôin trong 03 mẫu chất lỏng màu trắng được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định. Tổng thể tích mẫu M1: 3 ml.
Đều có tìm thấy thành phần các chất gồm M, C và 6 - Mam trong 03 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu T1,T2,T3 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 5201/KL-KTHS ngày 12-7-2024 của V Bộ C1 kết luận: “Nồng độ H1 trong mẫu chất lỏng màu trắng (03 xi lanh) gửi giám định : 18,9mg/ml".
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G Phan Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 5-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ Luật Hình sự;
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố Phan Văn Đ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định, 03 xi lanh; 02 lọ nước cất đã qua sử dụng; 02 nước cất chưa qua sử dụng; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel thu giữ của Đương; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của A và một điện thoại Newday thu giữ của Pháp. Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án để tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo Phan Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội đã nêu, không bào chữa, tranh luận gì, ăn năn, hối cải, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù, và xin miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, và kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20-6-2024 Phan Văn Đ đã có hành vi rủ rê Lê Văn P và Đoàn Văn A1 về nhà mình sử dụng trái phép chất ma túy. Đ là người chuẩn bị ma túy và thực hiện hành vi trực tiếp pha chế ma túy để P và A1 cùng Đ sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của bị cáo Phan Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, bản thân nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu số ma túy đã thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, 03 xi lanh; 02 lọ nước cất đã qua sử dụng; 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng cho tiêu hủy; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel của Đương; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của A1 và 01 điện thoại Newday của Pháp để sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về nguồn gốc số heroine: Quá trình điều tra, không xác định được người đã bán heroin cho Đ nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Đối với chiếc xe mô tô BKS xe mô tô 18G1-397.43, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn Q, khi Đ mượn xe, anh Q không biết Đ đi mua túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q là phù hợp.
[9] Đối với chiếc xe đạp điện không biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị T1, khi P mượn xe chị T1 không biết Pháp đi đâu nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T1 là phù hợp.
[10] Đối với Đoàn Xuân A và Lê Văn P đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Đ nhưng chưa kịp sử dụng, Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A và Pháp là phù hợp.
[12] Về án phí, quyền kháng cáo: bị cáo Phan Văn Đ bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Phan Văn Đ có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố Phan Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” xử phạt: Phan Văn Đ 07 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21-6-2024;
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong số 1179/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng kỹ thuật hính sự - Công an tỉnh N và số 5201/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của V - Bộ C1 hoàn trả sau giám định, 02 lọ nước cất đã qua sử dụng, 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng cho tiêu hủy; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 điện thoại Newday để sung ngân sách Nhà nước (được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng vật chứng số: 10/2025 ngày 06-11-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phan Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
5
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phạm Văn Đương 7 năm 6 tháng tù
