|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐĂK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 21-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Thông
Ông Nguyễn Duy Chấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Khởi Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Bà Niê Đoan Trinh– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2024/QÐST-HS ngày 15/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1991, tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: Căn hộ C, Chung Cư C, phường A, quận H, Tp .. Nơi ở trước khi phạm tội: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nữ. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lê Thị T1 (sinh năm 1964); Bị cáo có chồng là Nguyễn Thanh L1 (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 2006 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị T2: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1964 (Mẹ ruột bà T2) - Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Bùi Thị H và bà Nguyễn Thị X - Là các trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, số A đường C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người phiên dịch: Bà Trương Thị Thanh T3 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Số G Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1964 - Có mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Anh Mai Xuân T4, sinh năm 2000 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Ông Trương Công K, sinh năm 1964 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1999 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Ông Lê Xuân H2, sinh năm 1970 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 07/2024, Nguyễn Thị Ngọc L từ Tp . về ở với mẹ ruột là bà Lê Thị T1 ở thôn B, xã Đ, huyện Đ tỉnh Đắk Nông. Khoảng 15 giờ ngày 18/07/2024, L nảy sinh mâu thuẫn với bà T1 về cái chết của em trai là Nguyễn Văn D vào năm 2023 do bị đuối nước. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, L tiếp tục yêu cầu bà T1 và chị Nguyễn Thị T2 (chị ruột của L) cho khai quật mộ Nguyễn Văn D để L kiểm tra trong mộ có phải là Nguyễn Văn D hay không nếu không phải thì bà T1 phải trả lại tiền trước đây L đã gửi về để lo mai táng cho D nhưng bà T1 không đồng ý. L tiếp tục hỏi cháu Nguyễn Thị M (sinh ngày 26/6/2006, con gái của chị T2) là người khuyết tật nặng và không biết nói nên không trả lời được những câu hỏi của L, L bực tức lấy 01 con dao màu đen dài 33cm (kích thước cán dao 13cm x 02cm x 01cm, kích thước lưỡi dao 20cm x 04cm đầu nhọn) của L đe dọa bà T1 và chị T2 làm bà T1, chị T2 hoảng sợ nên cầm tay cháu M bỏ chạy ra ngoài đường thì L cầm dao đuổi theo, chạy được khoảng 100m thì cháu M bị té ngã xuống đường, L chạy đến dùng tay trái cầm áo của cháu M lôi cháu M đứng dậy rồi túm tóc của cháu M lôi về nhà. L lấy 02 sợi dây buộc giày của mình cắt thành 04 đoạn (đoạn 1 dài 24cm, đoạn 2 dài 26,5cm, đoạn 3 dài 28,5cm, đoạn 4 dài 56,5cm) rồi dùng trói hai tay cháu M lại và buộc vào song sắt cửa sổ của phòng khách nhà bà T1 và tiếp tục tra hỏi cháu M về cái chết của D, nhưng cháu M không trả lời nên L vẫn tiếp tục tra hỏi việc trong mộ có phải là Nguyễn Văn D hay không. Bà T1 và chị T2 không thể can ngăn được L nên đã trình báo Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để xử lý theo quy định của pháp luật.
* Tại bản kết luận giám định về thương tích số 378/KLTTCT-PY, ngày 25/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận Nguyễn Thị M bị:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Các vết in hằn mặt trước cổ, cổ tay hai bên và vết xước da vùng cổ tay phải hiện tại đã hết, không tạo sẹo trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Kết quả cận lâm sàng: Không.
- Kết quả khác: Không.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị M tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm).
- Kết luận khác: Không.
* Tại bản kết luận giám định Kỹ thuật hình sự số 448/KL-KTHS, ngày 08/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
Không thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong 03 tệp tin video mẫu cần giám định (Ký hiệu từ Al đến A).
Cáo trạng số 91/CT-VKS(ĐM), ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề nghị HĐXX áp dụng: điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen dài 33cm (kích thước cán dao 13cm x 02cm x 01cm, kích thước lưỡi dao 20cm x 04cm đầu nhọn); 04 đoạn dây buộc giày bị cắt từ 02 dây buộc giày (đoạn 1 dài 24cm, đoạn 2 dài 26,5cm, đoạn 3 dài 28,5cm, đoạn 4 dài 56,5cm).
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị T2 là người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho cháu Nguyễn Thị M 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào lúc 19 giờ 20 phút ngày 18/7/2024, tại nhà bà Lê Thị T1 ở thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do mâu thuẫn gia đình, bị cáo đã thực hiện hành vi dùng 01 con dao màu đen dài 33cm đe dọa, tra hỏi bà Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị T2 và cháu Nguyễn Thị M về cái chết của em trai là Nguyễn Văn D làm bà T5, chị T2, cháu M hoảng sợ bỏ chạy. Bị cáo đuổi theo dùng tay túm tóc cháu Nguyễn Thị M (là người khuyết tật nặng) lôi cháu M vào nhà rồi dùng 02 sợi dây buộc giày của mình cắt thành 04 đoạn trói hai tay của cháu Nguyễn Thị Minh L2 và buộc vào song sắt cửa sổ rồi tra hỏi cháu Nguyễn Thị M. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của BLHS.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
e) Đối với ... người không có khả năng tự vệ;”
[4] Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi bắt, giữ cháu M, là người khuyết tật nặng không có khả năng tự vệ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ gia đình, trong lúc nóng giận nhất thời không kiềm chế được hành vi nên bị cáo đã phạm tội đối với bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa phạm tội lần nào, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS. Đối chiếu với các quy định hướng dẫn về án treo, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú trực tiếp giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng. Việc bồi thường là do bị cáo tự nguyện và tác động gia đình bồi thường cho bị hại, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 con dao màu đen dài 33cm (kích thước cán dao 13cm x 02cm x 01cm, kích thước lưỡi dao 20cm x 04cm đầu nhọn); 04 đoạn dây buộc giày bị cắt từ 02 dây buộc giày (đoạn 1 dài 24cm, đoạn 2 dài 26,5cm, đoạn 3 dài 28,5cm, đoạn 4 dài 56,5cm) là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[10]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của BLHS; Điều 590 của BLDS, chấp nhận việc bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án ngày 21/11/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và gia đình bị cáo phối hợp, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen dài 33cm (kích thước cán dao 13cm x 02cm x 01cm, kích thước lưỡi dao 20cm x 04cm đầu nhọn); 04 đoạn dây buộc giày bị cắt từ 02 dây buộc giày (đoạn 1 dài 24cm, đoạn 2 dài 26,5cm, đoạn 3 dài 28,5cm, đoạn 4 dài 56,5cm). (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil).
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG về hình sự sơ thẩm về tội "bắt, giữ người trái pháp luật"
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bắt giữ người trái pháp luật
