TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HSST Ngày: 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và ông Nguyễn Trung Hoan.
Thư ký phiên toà: bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên toà: ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Thanh P, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 21/01/1993 tại Đ, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ F, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn P1 và bà Nguyễn Thị N; vợ: Phạm Thị Tú L và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 31/12/2020 bị Toà án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 31/8/2021 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Phạm Văn D, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 29/11/1988 tại K, Hải Dương. Nơi cư trú: khu T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S (đã chết) và bà Vũ Thị H; vợ: Vũ Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 18/6/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Lại Văn P2 và anh Vũ Văn Đ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 29/5/2024, Ngô Thanh P đang ở nhà thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma tuý tổng hợp (thường gọi là ma tuý đá), P gọi cho Phạm Văn D hỏi mua 2.000.000 đồng, P sẽ chuyển khoản trước 500.000 đồng còn 1.500.000 đồng sẽ trả bằng tiền mặt khi nhận được ma tuý, D đồng ý. Sau đó P chuyển vào tài khoản Ngân hàng B số 4621037345 mang tên Phạm Văn D số tiền 500.000 đồng, D hẹn P đến đoạn đường ở gầm băng tải gần nhà D ở khu T, phường M, thị xã K, tỉnh HảiHải Dương để giao ma tuý. Sau đó, P một mình điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn, gặp đưa cho D 1.500.000 đồng rồi nhận từ D 01 túi nilon kích thước (2,5x04) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. P mang ma tuý về nhà sử dụng một ít, số ma tuý còn lại P cất giấu trong gian nhà bếp.
Đến khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/6/2024, P lấy nốt số ma tuý mua của D, một mình đi xe khách đến khu vực thuộc tổ A, khu A, phường T, thành phố U để rủ bạn sử dụng cùng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: thu tại túi quần bên phải của P 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x04) cm, bên trong chưa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1), 01 điện thoại iPhone màu trắng gắn sim số 0988.626.161 và 01 Căn cước công dân mang tên Ngô Thanh P.
Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an thành phố U tiến hành bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn D. Vật chứng thu giữ: thu của D 02 túi nilon màu trắng, kích thước (02x02) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2, M3) và 01 điện thoại di động OPPO màu đen gắn sim số 0366.293.512.
Tại Kết luận giám định số: 958/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin;, khối lượng M1: 0,694 gam, M2: 0,246 gam, M3: 0,259 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà Ngô Thanh P và Phạm Văn D đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu. Về nguồn gốc số ma tuý D khai: vào ngày 28/5/2024 D mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tàu thành phố Hải Phòng với giá 2.000.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời.
Tại Cáo trạng số: 1938/CT- VKSUB ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố các bị cáo Ngô Thanh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Phạm Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Thanh P từ 18 đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ 18/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 958/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q và 02 sim điện thoại số 0988.626.xxx và 0366.293.512; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone màu trắng và 01 điện thoại di động OPPO màu đen.
Các bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, thành phố U lập hồi 12 giờ 20 phút ngày 18/6/2024 đối với bị cáo Ngô Thanh P và Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U có sự tham gia, xác nhận của Công an phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, phù hợp với vật chứng thu giữ của các bị cáo, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 29/5/2024, tại khu vực gầm băng tải thuộc khu T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn D có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý loại Methamphetamine cho Ngô Thanh P với giá 2.000.000 đồng. Ngoài ra, D còn cất giấu trái phép 0,505 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để bán. Đến khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/6/2024, Ngô Thanh P mang theo 0,694 gam ma tuý, loại Methamphetamine mua trước đó của D đến khu vực tổ A, khu A, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo Ngô Thanh P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Hình phạt chính:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, làm băng hoại đạo đức xã hội. Các bị cáo là những người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng do đua đòi, hám lợi, không làm chủ được bản thân, không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội các bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.
- * Tình tiết tăng nặng: không có
- * Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo P là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội, bị cáo D ngoài bán ma tuý cho P còn cất giấu ma tuý với mục đích bán trái phép cho người khác nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[3.2] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: số ma túy Methamphetamine thu giữ của các bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 02 sim điện thoại là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động iPhone màu trắng và 01 điện thoại di động OPPO màu đen là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với 01 Căn cước công dân mang tên Ngô Thanh P, Cơ quan điều tra đã giao cho gia đình bị cáo P quản lý, bảo quản nên không đề cập.
[5] Những tình tiết khác trong vụ án: đối với người đàn ông bán ma tuý cho D do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Ngô Thanh P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Ngô Thanh P 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/6/2024.
2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Phạm Văn D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 958/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q và 02 sim điện thoại số 0988.626.xxx và 0366.293.512; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone màu trắng và 01 điện thoại di động OPPO màu đen.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Ngô Thanh P và Phạm Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |
Bản án số 92/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 92/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh P - Tàng trữ trái phép chất ma túy
