TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-ST
Ngày 29-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Tư;
Bà Lương Thị Phượng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn M; sinh ngày 12 tháng 02 năm 1976 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn C (đã chết); con bà: Hà Thị E (sinh năm 1956); vợ: Chu Thị N; con: Có 02 người, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị kết án, đã bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Tại Bản án số 19/2017/HS-ST ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2018 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; tại Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 75/QĐ-UB(NC) ngày 15/8/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 20/7/2011; tại Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 330/QĐ-UBND ngày 21/11/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 25/10/2015; bị tạm giữ từ ngày 21/5/2024; tạm giam từ ngày 27/5/2024 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Chu Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Anh Nông Đức M1; sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Anh Nông Văn H; sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nông Đức M1, sinh năm 1993. Có mặt.
- Anh Lăng Văn M2, sinh năm 1986. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1994. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/5/2024, bị cáo Nông Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1 – 128.91 đến nhà Hoàng Văn K để tìm mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Do Hoàng Văn K nói biết chỗ mua ma túy nên đã cùng Nông Văn M đi đến cổng thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, Nông Văn M đưa cho Hoàng Văn K số tiền 4.000.000 đồng. Hoàng Văn K nhận tiền rồi đi bộ vào trong thôn N. Khoảng 10 phút sau, Hoàng Văn K quay lại đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma tuý heroine rồi cả hai đi về nhà. Về đến nhà của Nông Văn M, Hoàng Văn K xuống xe đi đâu Nông Văn M không biết, còn Nông Văn M đi vào phòng ngủ mở túi ma tuý vừa mua được ra chia làm hai phần. Phần thứ nhất dùng các mảnh giấy cắt từ vở học sinh để gói lại được khoảng 80 gói ma tuý. Bị cáo cất số ma túy này vào 01 lọ nhựa màu trắng bên ngoài có chữ “Viên khớp Tâm B" rồi cất dưới giường trong phòng ngủ; phần còn lại Nông Văn M cho vào túi nilon cất trên tủ lạnh với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Ngày 21/5/2024, sau khi cùng đi uống thuốc methadone, Nông Văn M điều khiển xe mô tô đưa Hoàng Văn K về nhà. Sau khi Hoàng Văn K vào nhà, Nông Văn M điều khiển xe mô tô đi ra ngoài, đến ngoài sân nhà Hoàng Văn K thì gặp Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 lần lượt đi tới. Thấy Nông Văn M, Nông Đức M1 (sinh năm 1993) đi đến và hỏi mua 100.000 đồng ma túy. Nông Văn M đồng ý bán, nhận 100.000 đồng rồi đưa cho Nông Đức M1 (sinh năm 1993) 01 gói ma túy. Thấy thế, Lăng Văn M2 đi đến gần Nông Văn M và hỏi mua 100.000 đồng ma túy với Nông Văn M. Nông Văn M đồng ý bán, nhận 100.000 đồng và đưa cho Lăng Văn M2 01 gói ma túy. Sau đó, Lăng Văn M2 cùng Nông Đức M1 (sinh năm 1993) đi ra ngoài đường, còn Nông Văn M đi về nhà.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, khi Lăng Văn M2 và Nông Đức M1 (sinh năm 1993) vừa sử dụng ma túy xong thì bị tổ công tác Công an huyện V phát hiện, thu giữ của Nông Đức M1 (sinh năm 1993) 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02cm x 03cm; thu giữ của Lăng Văn M2 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 vỏ lọ thủy tinh bề ngoài có chữ “NOVOCAIN", 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02cm x 03cm.
Căn cứ lời khai của Lăng Văn M2 và Nông Đức M1 (sinh năm 1993), Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nông Văn M, thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải đang mặc của Nông Văn M số tiền 80.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Văn M phát hiện, thu giữ 01 lọ nhựa màu trắng bề ngoài có chữ "Viên khớp Tâm B", bên trong có chứa 80 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine; 01 quyển vở học sinh bên trong có 24 tờ giấy có vệt cắt dở, 01 kéo sắt cán màu đỏ, 01 bật lửa ga màu đỏ, 06 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02 x 03cm.
Tại Kết luận giám định số 602/KL - KTHS ngày 26/05/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 80 gói giấy màu trắng có dòng kẻ đều là chất ma tuý heroine, có tổng khối lượng 2,322 gam (đã trừ bì).
Tại Kết luận giám định số 719/KL - KTHS ngày 24/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam 80.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư gửi giám định đều là tiền thật.
Quá trình điều tra, Nông Văn M nhiều lần thay đổi lời khai. Tại lời khai ngày 21/5/2024, bị cáo khai sau khi mua ma túy, bị cáo chia ma túy ra làm 02 phần, một phần chia được 80 gói nhỏ để trong lọ nhựa cất dưới giường, phần còn lại cất trên tủ lạnh đã sử dụng hết, chưa kịp bán cho ai. Tại lời khai ngày 27/5/2024, bị cáo khai sau khi mua ma túy, bị cáo chia ma túy ra làm 02 phần, một phần chia được 82 gói nhỏ để trong lọ nhựa cất dưới giường, phần còn lại cất trên tủ lạnh đã sử dụng hết; bị cáo đã lấy 02 gói ma túy trong số 82 gói bán cho Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2. Tại lời khai ngày 26/6/2024, bị cáo khai được bán ma túy cho Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 mỗi người 01 gói với giá mỗi gói là 100.000 đồng.
Các lời khai sau đó và tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Lăng Văn M2. Bị cáo khai sau khi mua ma túy, bị cáo chia ma túy ra làm 02 phần, một phần chia được 80 gói nhỏ để trong lọ nhựa cất dưới giường, phần còn lại chia được 05 gói nhỏ cất trên tủ lạnh. Bị cáo đã sử dụng hết 04 gói trong số 05 gói cất trên tủ lạnh, còn lại 01 gói đã bán cho Nông Đức M1 (sinh năm 1993) với giá 100.000 đồng. Số tiền bán ma túy bị cáo đã chi tiêu cá nhân, còn lại 80.000 đồng đã bị thu giữ. Bị cáo khai nghiện ma túy từ năm 2008.
Đối với nguồn gốc số tiền 4.000.000 đồng dùng để mua ma túy, lời khai của bị cáo cũng có sự mâu thuẫn. Tại Cơ quan điều tra, có lời khai bị cáo khai là tiền của một mình bị cáo; có lời khai bị cáo khai là tiền của con trai là anh Nông Văn H; có lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai là tiền chung của hai vợ chồng.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1 – 128.91, bị cáo khai thuộc sở hữu của anh Nông Đức M1 (sinh năm 1996), là con trai của bị cáo. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe này đi mua ma túy anh Nông Đức M1 (sinh năm 1996) không biết.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Chu Thị N khai: Chị là vợ của bị cáo Nông Văn M. Vợ chồng chị có những khoản tiền sinh hoạt chung cất trong tủ ở nhà của hai vợ chồng. Ngày 19/5/2024, chị kiểm tra tiền thấy thiếu khoảng 3.000.000 đồng. Chị có hỏi bị cáo Nông Văn M nhưng bị cáo không nói đã sử dụng tiền để làm gì. Chị không biết việc bị cáo sử dụng tiền này để mua ma túy. Chị không có yêu cầu, đề nghị gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nông Đức M1 (sinh năm 1996) khai: Anh là con của bị cáo Nông Văn M. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1 - 128.91 thuộc sở hữu của anh, do anh mua và đăng ký chủ sở hữu. Hàng ngày, anh vẫn cho bị cáo Nông Văn M mượn xe để đi lại. Việc bị cáo sử dụng xe để mua ma túy anh không biết. Quá trình điều tra anh không bị thu giữ chiếc xe này. Anh không có yêu cầu, đề nghị gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nông Văn H khai: Anh là con của bị cáo Nông Văn M. Anh không biết việc bị cáo Nông Văn M mua bán trái phép chất ma túy. Số tiền bị cáo sử dụng để mua bán ma túy do đâu mà có anh không biết.
Tại Cơ quan điều tra, người làm chứng anh Hoàng Văn K khai: Anh và Nông Văn M là người cùng thôn và cùng đi điều trị cai nghiện bằng thuốc methadone nên quen biết nhau, không có mâu thuẫn gì. Ngày 19/5/2024, anh đi đến Trung tâm y tế Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để uống thuốc methadone, sau đó đi về nhà, không gặp Nông Văn M, không được đi mua ma túy cho Nông Văn M.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người làm chứng anh Lăng Văn M2 và anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) khai: Do nghiện ma túy nên ngày 21/5/2024, anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và anh Lăng Văn M2 rủ nhau đến nhà Nông Văn Mao để mua ma túy. Trên đường đi thì các anh gặp Nông Văn M tại sân nhà anh Hoàng Văn K. Anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) đi trước, đến gặp Nông Văn M mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau đó, Lăng Văn M2 cũng đến mua với Nông Văn M 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và anh Lăng Văn M2 đi tìm chỗ để sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ các vật chứng như nêu trên.
Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng khai, trong quá trình điều tra không bị ép cung, không bị dùng nhục hình, không có khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và xác nhận các lời khai của họ trong hồ sơ vụ án là tự nguyện, đã được tự đọc hoặc nghe đọc và tự ký vào biên bản.
Tại cáo trạng số 89/CT-VKSVL ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định và các vỏ bao gói, 01 quyển vở học sinh, 01 kéo sắt, 02 bật lửa ga, các mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang, 01 mảnh giấy bạc, 01 bơm kim tiêm, 01 vỏ lọ thủy tinh; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 80.000 đồng, truy thu của bị cáo số tiền 120.000 đồng do bán ma túy mà có. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét thấy, các lời khai của bị cáo Nông Văn M trong quá trình điều tra và tại phiên tòa mâu thuẫn với nhau. Tại các lời khai ngày 27/5/2024 và 26/6/2024, bị cáo Nông Văn M khai được bán cho Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 mỗi người 01 gói ma túy với giá mỗi gói là 100.000 đồng. Trong các lời khai còn lại, bị cáo không thừa nhận được thực hiện hành vi bán ma túy cho Lăng Văn M2; các lời khai này mâu thuẫn với lời khai của những người làm chứng anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 bởi anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 đều khai mỗi người đều được mua với bị cáo 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng; mâu thuẫn với các vật chứng thu giữ được là các mảnh giấy gói ma túy của anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và Lăng Văn M2 sau khi sử dụng có các đặc điểm tương tự với các mảnh giấy thu được tại nhà của bị cáo Nông Văn M mà bị cáo đã sử dụng để gói ma túy, đều là các mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02 x 03cm.
[4] Do đó, đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nông Văn M đã có hành vi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 21/5/2024, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi bán ma túy cho anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và anh Lăng Văn M2. Số ma túy bị cáo bị thu giữ và phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,322 gam chất ma túy heroine. Việc bị cáo nhiều lần thay đổi lời khai thể hiện bị cáo không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.
[6] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nông Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Không có.
[8] Nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2008, đã bị kết án 02 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2018 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã 02 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 20/7/2011 và ngày 25/10/2015; tính đến nay đã đủ thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
[9] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghiện ma túy, nghề nghiệp là nông dân, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[11] Đối với anh Hoàng Văn K theo lời khai của bị cáo là người bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy, không đủ căn cứ buộc tội anh Hoàng Văn K. Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của anh Lăng Văn M2 và Nông Đức M1 (sinh năm 1993), do không cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý hình sự.
[12] Đối với bà Chu Thị N là vợ của bị cáo Nông Văn M, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bà Chu Thị N về nguồn gốc số tiền 4.000.000 đồng dùng để mua ma túy là từ tiền sinh hoạt chung của hai vợ chồng. Tuy nhiên, bà Chu Thị N không biết bị cáo sử dụng số tiền này để đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với bà Chu Thị N.
[13] Đối với anh Nông Văn H, mặc dù có lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra khai số tiền mua bán ma túy là của anh Nông Văn H. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh nội dung này. Bản thân anh Nông Văn H khai anh không biết việc bị cáo mua bán ma túy, không biết số tiền bị cáo dùng để mua ma túy do đâu mà có. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với anh Nông Văn H.
[14] Đối với anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và anh Lăng Văn M2 có hành vi mua ma túy về sử dụng do không cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý.
[15] Xử lý vật chứng: Chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ bao gói, mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang, mảnh giấy bạc, kéo sắt, bật lửa, lọ nhựa, quyển vở học sinh, bơm kim tiêm, vỏ lọ thủy tinh là các công cụ để thực hiện hành vi mua bán, sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 80.000 đồng bị thu giữ và truy thu của bị cáo số tiền 120.000 đồng là tiền bị cáo bán trái phép chất ma túy mà có theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng để mua ma túy là thuộc sở hữu của anh Nông Đức M1 (sinh năm 1996), việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội anh Nông Đức M1 (sinh năm 1996) không biết. Do đó, không có căn cứ tịch thu chiếc xe này.
[16] Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[17] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[18] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tội danh
Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Hình phạt
Xử phạt bị cáo Nông Văn M 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 21/5/2024).
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
- Tịch thu tiêu hủy
- - 01 (một) phong bì ghi chữ “KX Nông Văn M" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H1, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K1 tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) túi nilon đựng 2,269 gam heroine, lọ nhựa và các vỏ bao gói (còn lại sau giám định);
- - 01 (một) quyển vở học sinh bề ngoài có chữ “Công ty cổ phần G", bên trong có 24 tờ giấy có vệt cắt dở;
- - 01 (một) kéo sắt cán màu đỏ (đã qua sử dụng);
- - 02 (hai) bật lửa ga màu đỏ (đã qua sử dụng);
- - 06 (sáu) mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02 x 03cm;
- - 01 (một) mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) bơm kim tiêm (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) vỏ lọ thủy tinh có chữ “NOVOCAIN” (đã qua sử dụng);
- - 02 (hai) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang kích thước 02 x 03cm.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2024).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 80.000 (tám mươi nghìn) đồng hiện đang lưu giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán, số tham chiếu 2420410305189821, ngày 04/10/2024 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
- Truy thu bị cáo Nông Văn M số tiền 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy
- Án phí
Bị cáo Nông Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/10/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lương Thị Phượng Nguyễn Đình Tư | Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nông Văn M đã có hành vi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 21/5/2024, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi bán ma túy cho anh Nông Đức M1 (sinh năm 1993) và anh Lăng Văn M2. Số ma túy bị cáo bị thu giữ và phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,322 gam chất ma túy heroine.
