|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 24 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Năm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bẩy.
- Ông Lương Xuân Sớm.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/10/2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST - HS ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST- HS ngày 10/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/9/2003 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ C, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Ngô Thị L; chưa có vợ, con; tiền án; không; tiền sự: không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Quang H, sinh ngày 23/6/2003 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H1 và bà Trần Thị N; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 24/6/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Duy A, sinh năm 1996. Địa chỉ: tổ F, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1974. Địa chỉ: tổ A, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: ông Nguyễn Minh C và ông Vũ Huy Đ cùng trú tại phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/5/2024, Nguyễn Văn T đặt mua của 01 người không quen biết trên mạng xã hội Telegram 01 túi ma túy cần sa với giá 1.250.000 đồng. Sau khi mua, T chia túi ma túy cần sa thành 10 túi nhỏ và đã sử dụng hết 07 túi. Khoảng 16 giờ ngày 22/6/2024, Bùi Quang H liên lạc với T qua ứng dụng Messenger hỏi mua 03 túi ma túy cần sa. Do đang còn 03 túi ma túy cần sa mua trước đó nên T đồng ý bán cho H và hẹn H đến khu vực sân bóng Công ty T3 ở khu Đ, phường M, thị xã Đ để giao dịch. Ngay sau đó, T cầm 03 túi ma túy cần sa đi đến điểm hẹn gặp và bán cho H với giá 550.000 đồng. Sau khi mua, H cầm 03 túi ma túy cần sa và điều khiển xe mô tô biển số 14AZ-076.67 đi về nhà ở khu V, phường M, thị xã Đ. Tại đây, H lấy 01 túi cần sa ra xé vỏ rồi dùng 01 mảnh giấy màu đỏ có chữ màu vàng để xúc một phần các sợi cần sa ra sử dụng. Sau khi sử dụng, H gói cả mảnh giấy màu đỏ cùng số cần sa còn lại vào 01 túi nilon rồi cất giấu cùng 02 túi cần sa vào giá sách trong phòng ngủ của H, nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Đến khoảng 17 giờ ngày 24/6/2024, Phạm Duy A (sinh năm 1996, trú tại Tổ F, khu V, phường M, thị xã Đ) gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 túi ma túy cần sa. H đồng ý bán với giá 300.000 đồng và hẹn Duy A đến khu vực đường liên khu ở khu D, phường M, thị xã Đ để giao dịch. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, H lấy 01 túi cần sa đang cất giấu tại giá sách trong phòng ngủ, rồi điều khiển xe mô tô biển số 14AZ-076.67 đi đến điểm hẹn, gặp và đưa cho Duy A túi cần sa, tuy nhiên lúc này Duy A chỉ có 190.000 đồng nên đưa số tiền này cho H. Trong lúc H đang cầm tiền và đếm, thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Đ phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon kích thước (4x7)cm chứa thực vật khô trên tay phải của Duy A (kí hiệu M1); số tiền 190.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng) trên tay của H. Ngoài ra, tạm giữ của Duy A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0587.117.594; tạm giữ của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, gắn sim số 0396.003.456 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-SH biển số 14AZ-076.67.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Quang H đã phát hiện thu giữ tại giá sách trong phòng ngủ của H gồm: 01 túi nilon kích thước (4x7)cm, bên trong chứa thực vật khô (kí hiệu M2) và 01 mảnh giấy màu đỏ có chữ màu vàng; 01 túi nilon kích thước (4x7)cm bên trong chứa thực vật khô (kí hiệu M3).
Căn cứ các tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T, tạm giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 PROMAX, gắn sim số 0388.169.203.
Tại bản Kết luận giám định số 1003 ngày 01/7/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- Mẫu vật kí hiệu M1, M3 gửi giám định là ma túy; loại cần sa, khối lượng: M1 là 1,516 gam (một phẩy năm một sáu gam); khối lượng M3 là 0,829 gam (không phẩy tám hai chín gam);
- Mẫu vật kí hiệu M2 gửi giám định có khối lượng 0,023 gam (không phẩy không hai ba gam). Tìm thấy chất ma túy Delta9-tetrahydrocanabinol trong mẫu vật kí hiệu M2 gửi giám định (Delta9-tetrahydrocanabinol là một trong các hoạt chất chính có trong cần sa).
- Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn T và Bùi Quang H đều có lời khai thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Duy A vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu xin lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0587.117.594 do không còn nhu cầu sử dụng và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Người chứng kiến ông Nguyễn Minh C và ông Vũ Huy Đ đều có lời khai: chứng kiến việc cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Quang H có hành vi bán ma tuý cần sa khô cho Phạm Duy A.
Bản cáo trạng số 2144/CT - VKSĐT ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn T và Bùi Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị tạm giữ (ngày 24/6/2024).
- Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang H từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 24/6/2024).
- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: phong bì niêm phong số 1003/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong đựng mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám định).
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: ba chiếc điện thoại di động, trong đó: một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, gắn sim số 0396.003.456 (thu giữ của Bùi Quang H), một điện thoại di động Iphone 13 PROMAX, gắn sim số 0388.169.203 (thu giữ của Nguyễn Văn T), một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0587.117.594 (thu giữ của Phạm Duy A).
- Tịch thu số tiền 190.000 đồng là vật chứng vụ án (thu giữ trên tay H).
- Tịch thu số tiền 550.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn T do bán ma túy mà có được gia đình bị cáo tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều theo biên lai số 0002722 ngày 24/10/2024.
Các bị cáo đồng tình với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không bị khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.
Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp bảo đảm đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Ngày 22/6/2024, tại khu Đ, phường M, thị xã Đ, Nguyễn Văn T có hành vi bán 03 túi ma túy cần sa với giá 550.000 đồng cho Bùi Quang H, để H sử dụng và bán lại kiếm lời.
Ngày 24/6/2024, tại khu D, phường M, thị xã Đ, Bùi Quang H có hành vi bán 1,516 gam ma túy cần sa cho Phạm Duy A được 190.000 đồng, thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra H còn tàng trữ trái phép 0,829 gam cần sa và 0,023 gam chất ma túy Delta9-tetrahydrocanabinol (Delta9-tetrahydrocanabinol là một trong các hoạt chất chính có trong cần sa) mục đích để bán kiếm lời, thì bị kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng.
[3] Hành vi mua ma túy sau đó tàng trữ ma túy để bán cho người khác của Nguyễn Văn T và Bùi Quang H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Hai bị cáo là người thành niên, có đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Văn T và Bùi Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với các bị cáo; Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đánh giá trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Hai bị cáo nhận tội; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét nên hai bị cáo được đánh giá là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[5] Trong vụ án, hai bị cáo thực hiện hành vi độc lập nên mỗi bị cáo chịu trách nhiệm riêng về hành vi bán ma túy do bị cáo thực hiện và lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để bán.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Bùi Quang H đều có nhân thân tốt, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (bị cáo T đã vận động gia đình nộp lại số tiền bị cáo thu lời do phạm tội mà có) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có bà nội là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng: hai bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
[8] Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước và gây mất an ninh trật tự nên cần phải cách ly hai bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
[9] Vật chứng vụ án:
- Phong bì niêm phong số 1003/KL-KTHS ngày - 01/7/2024 bên trong đựng mẫu vật (ma túy) hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh Q là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Ba chiếc điện thoại di động đã thu giữ của Bùi Quang H, Nguyễn Văn T và Phạm Duy A trong vụ án đều liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- Số tiền 190.000 đồng bị cáo H có được từ việc bán ma túy cho Phạm Duy A, đây là khoản tiền do phạm tội mà có nên cần phải tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 550.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn T do bán ma túy mà có được gia đình bị cáo tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều theo biên lai số 0002722 ngày 24/10/2024 cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-SH biển số 14AZ-076.67 là tài sản của gia đình ông Bùi Văn H1 (bố của Bùi Quang H) mua trả góp. Ông H1 không biết việc H sử dụng xe mô tô đi mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại ông Bùi Văn H1 chiếc xe mô tô trên là phù hợp.
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; xét thấy các bị không có tài sản, công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[11] Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.
[13] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 24/6/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 24/6/2024).
- Về vật chứng: áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: Một phong bì niêm phong số 1003/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q bên trong đựng mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: ba chiếc điện thoại di động, trong đó: một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, gắn sim số 0396.003.456 (thu giữ của Bùi Quang H), một điện thoại di động Iphone 13 promax, gắn sim số 0388.169.203 (thu giữ của Nguyễn Văn T), một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0587.117.594 (thu giữ của Phạm Duy A).
(Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 06 ngày 03/10/2024 giữa Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều). - Tịch thu số tiền 190.000 đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng) được gói niêm phong thu giữ của bị cáo H do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) của Nguyễn Văn T do bán ma túy mà có được gia đình bị cáo tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự theo biên lai số 0002722 ngày 24/10/2024.
(Tình trạng tài sản như biên bản giao nhận tài sản số 27/2024BBGN-KBNN ngày 02/8/2024 giữ Cơ quan cảnh sát điều tra và Kho bạc nhà nước Đông Triều)
- Về án phí, quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Các bị cáo Nguyễn Văn T và Bùi Quang H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Năm |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
