Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/DS-ST

Ngày: 04/10/2024

V/v tranh chấp hợp

đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Âu Cần Đông

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99A/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: số B, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức danh Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng T, chức danh: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh H - Phòng G. Người đại diện tham gia tố tụng (nhận ủy quyền lại): Bà Ngô Thị Huỳnh M, chức danh: Phó phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh H - Phòng G (Văn bản uỷ quyền ngày 09/8/2024) (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trịnh Hoàng T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng), người đại diện tham gia tố tụng bà Ngô Thị Huỳnh M trình bày: Ngân hàng khởi kiện bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 để trả nợ, cụ thể như sau: Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1727125 ký ngày 06/5/2021, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Trịnh Hoàng T1 với hạn mức sử dụng là 18.000.000 đồng; mục đích để tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trịnh Hoàng T1 đã thực hiện các giao dịch. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trịnh Hoàng T1 đã sử dụng giao dịch rút tiền, nạp vào. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trịnh Hoàng T1 vẫn không thực hiện trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Hoàng T1 trả nợ tính đến ngày 04/10/2024 tổng cộng là 38.966.401 đồng, trong đó gốc là 18.000.000 đồng, lãi là 20.966.401 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trịnh Hoàng T1 trả cho nguyên đơn Ngân hàng tổng cộng số tiền tính đến ngày 04/10/2024 là 38.966.401 đồng, trong đó gốc là 18.000.000 đồng, lãi là 20.966.401 đồng, và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ. Về án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng đã ký, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Trịnh Hoàng T1.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 06/5/2021 thể hiện Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 18.000.000 đồng cho bị đơn ông Trịnh Hoàng T1. Hợp đồng trên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 trả nợ gốc tính đến ngày 04/10/2024 với số tiền 18.000.000 đồng là có căn cứ.

[3.2] Về lãi suất: Theo thỏa thuận của các bên đã ký kết trong giao dịch tín dụng nêu trên thì lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 31,2%/năm. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết...”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông T1 trả lãi phát sinh tạm tính đến ngày 04/10/2024 là 20.966.401 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.

[4] Từ những phân tích nêu trên, buộc ông Trịnh Hoàng T1 trả cho nguyên đơn Ngân hàng tổng cộng số tiền tính đến ngày 04/10/2024 là 38.966.401 đồng, trong đó gốc là 18.000.000 đồng, lãi là 20.966.401 đồng, và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.

[5] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 phải chịu theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

[2] Buộc bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 04/10/2024 là 38.966.401 đồng (Ba mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm lẻ một đồng), trong đó gốc là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng), lãi suất là 20.966.401 đồng (Hai mươi triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm lẻ một đồng).

Kể từ ngày 05/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 phải nộp số tiền 1.948.320 đồng (Một triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi đồng).

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (có người đại diện ủy quyền là bà Ngô Thị Huỳnh M) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 797.000 đồng (Bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007810 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[4] Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/10/2024). Bị đơn ông Trịnh Hoàng T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 04/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 92/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger