Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1993 tại C, Hải Dương;
  2. Nơi cư trú: KDC số E T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.

  3. Bùi Văn V, sinh năm 1995 tại T, Nam Định;
  4. Nơi cư trú: Xóm Tân Phú, xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

    Chỗ ở: KDC số 4 Bình Giang, phường Phả Lại, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Bùi Văn H và bà Phạm Thị Q; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.

  5. Vũ Quốc V1, sinh năm 1996 tại C, Hải Dương.
  6. Nơi cư trú: KDC số I P, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Vũ Văn T1 và bà Trần Thị H1; vợ, con: Không; tiền sự: Không.

    Tiền án: Bản án số 66A ngày 09/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương xử phạt V1 11 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2024.

    Nhân thân: Bản án số 64 ngày 11/11/2015 Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh hải Dương xử phạt 16 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999, V1 chấp hành xong ngày 02/10/2017

    Bản án số 70 ngày 02/10/2018 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều xử V1 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, V1 chấp hành xong bản án ngày 28/4/2020

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

  7. Lương Ngọc A, sinh năm 1999 tại C, Hải Dương;
  8. Nơi cư trú: KDC số D B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lương Văn T2 và bà Trần Thị P (Đều đã chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam – đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 145 ngày 11/6/2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy C3.

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

  9. Lê Văn C, sinh năm 1987 tại A, Hải Phòng;
  10. HKTT: Xóm Hạ, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

    Chỗ ở: Thôn Cầu Đào, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lê Văn K và bà Vũ Thị H2; vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1986; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2007; tiền sự: Không.

    Tiền án:

    • Bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 14/6/2017 của Toà án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/2/2019. Chưa được xóa án tích.
    • Bản án hình sự sơ thẩm số 35 ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2022. Chưa được xóa án tích.

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

  11. Nguyễn Trung N1, sinh năm 1990 tại Gia Bình, Bắc Ninh;
  12. Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung C1 và bà Nguyễn Thị H3; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Bản án số 58 ngày 27/9/2012 của Toà án nhân dân Huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2015.

    Bị tạm giữ ngày 25/5/2024, chuyển tạm giam ngày 27/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 23/5/2024, Nguyễn Văn N, Vũ Quốc V1, Bùi Văn V rủ nhau ăn đêm tại quán ăn ở khu vực Cầu sắt thuộc phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, đến khoảng 22 giờ cùng ngày sau khi ăn xong, Bùi Văn V nói với mọi người “có dùng thuốc chống say tý không” (ý của V là rủ sử dụng trái phép ma tuý), N bảo “để gọi cho bạn” (ý là để N gọi mua ma tuý). Nghiệp sử dụng điện thoại si động S, loại Galaxy M14 5G, bên trong không lắp sim, đặng nhập qua ứng dụng M1 gọi điện cho Nguyễn Trung N1 bảo N1 bán ma túy cho, N1 đồng ý và bảo N chuyển khoản tiền cho N1. Sau đó N đọc số tài khoản ngân hàng của N1 cho Bùi Văn V, V sử dụng điện thoại Iphone X, màu trắng, bên trong gắn sim số 0985.865.158 đăng nhập vào tài khoản ngân hàng M2 chuyển 500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng MB: 0968033265 của N1. Sau đó N gặp Lương Ngọc A (là nhân viên phục vụ quán ăn đêm) thì rủ về nhà A sử dụng trái phép ma tuý, A đồng ý và bảo với N “đêm em mới về được, tý nữa các anh gọi cái gì ship thì em về” (ý của A là tý N gọi ship đồ về, để A lấy lý do về nhà sử dụng trái phép ma tuý). Sau khi nhận được tiền V gửi cho N1 do quen biết với Lê Văn C và biết C có bán ma túy nên N1 sử dụng điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 11, bên trong gắn sim số 0968.033.265 gọi điện thoại cho Lê Văn C (là người có hai tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý chưa được xóa án tích) hỏi mua ma tuý. Do trước đó C đã mua được của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch 02 gói ma tuý nên C đồng ý bán và bảo N1 chuyển khoản cho C, N1 sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển 500.000 đồng vào tài khoản 0347533282, Ngân hàng MB của C. Sau khi chuyển tiền cho C, N1 đi bộ đến nhà C tại Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh thì C đưa cho N1 01 gói ma tuý, sau khi lấy được ma túy trên đường đi Nam có bỏ một phần nhỏ ma túy ra cho vào tờ giấy ăn để vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về phía vòng xuyến, thuộc xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh gọi điện bảo N đến lấy ma tuý. N bảo Vũ Quốc V1 chở đi, lấy khi đi Vũ Quốc V1 mượn xe mô tô của Bùi Văn V (Chiếc xe mô tô Bùi Văn V mượn của một người bạn không rõ tên tuổi, địa chỉ để đi lại) đi lấy ma tuý. Khi gặp N1 đưa cho N 01 túi nilon màu trắng chứa ma tuý. Sau đó lấy số ma túy vừa chia ra định sử dụng thì bị rơi ở đâu không rõ.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi mua được ma túy Vũ Quốc V1 chở N đến đón Bùi Văn V, sau đó đi đến nhà Lương Ngọc A ở Khu D B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, trên đường đi thì gọi Vũ Quốc V1 gọi điện thoại cho A và bảo về sử dụng ma túy. Đến khoảng 0 giờ ngày 24/5/2024, N, Quốc V1 và Văn V đi đến nhà A; vào nhà N lấy ở trong tủ của A ra: Một đoạn ống hút nhựa màu xanh, một đoạn ống hút màu trắng; lấy ở góc nhà một chai nước không có nhãn mác màu trắng, 01 bật lửa gas, coóng thủy tinh và để ra mặt nền phòng cùng túi ma túy.

Vũ Quốc V1 đục lắp chai và lắp ráp bộ dụng cụ, đổ ma túy vào coóng rồi dùng bật lửa đối nóng ma tuý để sử dụng. Vũ Quốc V1, Bùi Văn V, N cùng nhau sử dụng được khoảng 10 phút thì A về, tất cả cùng nhau sử dụng ma túy đến khoảng 3 giờ ngày 24/5/2024, sau khi cả nhóm sử dụng ma túy xong, N tháo coóng thủy tinh ra cầm về nhà, còn chai nước, bật lửa, ống hút vẫn để tại phòng của A.

Khoảng 11 giờ ngày 24/5/2024. Công an thành phố C phát hiện Nguyễn Văn N có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình làm việc Nghiệp tự nguyện giao nộp 01 (một) coóng thủy tinh, chiều dài 13 cm, phần bầu coóng bám dính chất rắn màu xám có ma túy (là coóng thủy tinh trong bộ dụng cụ các đối tượng sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại GalayxyM14 5G, trong không lắp sim điện thoại.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Lương Ngọc A thu giữ: 01 chai nhựa màu trắng, không có nhãn mác, chiều cao 12 cm, đường kính mặt đáy 6 cm, phần nắp chai được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút ngựa màu xanh dài 19 cm, một đầu ống nhựa được nối ống hút nhựa màu trắng dài 30 cm; 01 bật lửa gas không có nhãn mác (là bộ dụng cụ các đối tượng sử dụng ma túy); 01 điện thoại di động kiểu máy Redmi K20 Pro, bên trong gắn sim số: 0336.281.299.

Khám xét chỗ ở của Lê Văn C thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4x6)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu 01); 01 điện thoại di động kiểu dáng Redmi 9A, màu xanh bên trong gắn sim số 0347.533.282.

Quá trình làm việc Vũ Quốc V1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại 105, màu xanh, bên trong gắn sim số: 0368.362.787; Bùi Văn V tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng bên trong gắn sim số: 0985.865.158; Nguyễn Trung N1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Redmi Note 11, màu đen, bên trong gắn sim số 0968.033.265.

Tại bản kết luận giám định số: 264/KL-KTHS, ngày 24/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận:

  • Quá trình giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine bám dính trong cóong thủy tinh gửi đến giám định, lượng mẫu nhỏ không xác định được khối lượng.
  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu 01 gửi đến giám định có khối lượng 0.111 g là ma túy loại Methamphetamine.

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 phong bì thư được niêm phong tang vật vụ án gửi giám định là mẫu vật hoàn lại sau giám định chứa 01 coóng thủy tinh màu trắng chiều dài 13 cm, 01 túi nilon màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu trắng, không có nhãn mác, chiều cao 12 cm, đường kính mặt đáy 6 cm, phần nắp chai được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu xanh chiều dài 19 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 30 cm; 01 bật lửa gas không có nhãn mác; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy M14 5G; số IMEI 1: 356353921186915, bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bên trong gắn sim số: 0985.865.158, số IMEI: 356718086403414; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại Nokia 105, màu xanh, bên trong gắn sim số: 0368.362.787; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi Note 11, màu đen bên trong gắn sim số: 0968.033.265; số IMEI 1: 868441063521469; 01 điện thoại di động loại Redmi K20 Pro, bên trong gắn sim số 0336.281.299; 01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh, bên trong gắn sim số 0347.533.282, số IMEI 1: 866438057045291.Để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô Bùi Văn V, Vũ Quốc V1 và Nguyễn Văn N sử dụng để đi mua ma tuý, chiếc xe máy trên Bùi Văn V khai mượn của một người bạn xã hội (không rõ tên tuổi, địa chỉ), sau khi các đối tượng mua ma tuý, V đã trả lại chiếc xe máy trên. Các đối tượng không nhớ rõ biển số xe, không biết chủ sở hữu nên không thu giữ được; Đối với gói ma túy nhỏ gói trong mảnh giấy ăn Nam bớt ra để sử dụng, trên đường đi đã rơi ở vị trí nào không rõ, cơ quan CSĐT công an thành phố C đã truy tìm nhưng không thấy.

Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKS-CL ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lê Ngọc A1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Trung N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:

  • Về tội danh, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lê Ngọc A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn V
    • + Xử phạt bị cáo Bùi Văn V từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Quốc V1.
    • + Xử phạt bị cáo Vũ Quốc V1 từ 07 năm 05 tháng tù đến 07 năm 11 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Ngọc A
    • + Xử phạt bị cáo Lương Ngọc A từ 07 năm 01 tháng tù đến 07 năm 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
  • Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Trung N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn C
    • + Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung N1
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N1 từ 02 năm 02 tháng tù đến 02 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  • Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy:
    • 01 coóng thủy tinh màu trắng chiều dài 13 cm, và 01 vỏ phong bì ký hiệu số 1 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 264/KL-KTHS, góc phải ký hiệu T1;

      0,086g ma tuý loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khoá màu hồng, 01 vỏ phòng bì ký hiệu số 2 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 264/KL-KTHS, góc phải ký hiệu T2;

      01 vỏ chai nhựa màu trắng, không có nhãn mác, chiều cao 12 cm, đường kính mặt đáy 6 cm, nắp chai được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu xanh chiều dài 19 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 30 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ không có nhãn mác;

    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
    • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy M14 5G, màu xanh đen, số IMEI: 356353921186915, bên trong không lắp sim, máy đã qua sử dụng

      01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bên trong gắn sim số: 0985.865.158, số tiền trong tài khoản là 61 đồng, số seri sim 8984048000336304471; máy đã qua sử dụng

      01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, bên trong gắn sim số: 0368.362.787, số tiền trong tài khoản là 1.687 đồng, có số seri sim là 8984048000903837451, máy đã qua sử dụng

      01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi Note 11, màu đen, số IMEI: 868441063521469, bên trong gắn sim số: 0968.033.265, số tiền trong tài khoản là 0 đồng, số seri sim là 8984048000335468486, máy đã qua sử dụng.

      01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi K20 Pro, màu đỏ đen, số IMEI: 868204041149609, bên trong gắn sim số: 0336.281.299, số tiền trong tài khoản là 0 đồng, số seri sim là 8984048000380671431, máy đã qua sử dụng.

      01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh, số IMEI: 866438057045291, bên trong gắn sim số 0347.533.282 số tiền trong tài khoản là 17.636 đồng, số seri sim là 8984048000927914696.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lê Ngọc A1, Lê Văn C, Nguyễn Trung N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng và đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 23/5/2024, tại quán ăn đêm ở khu vực Cầu S thuộc phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn N, Bùi Văn V (là người đề xuất), Vũ Quốc V1 rủ nhau mua ma túy về nhà Lương Ngọc A ở khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương sử dụng. N gọi điện thoại cho Nguyễn Trung N1 để mua ma túy, Bùi Văn V chuyển khoản cho N1 500.000 đồng để mua ma túy. N1 đến nơi ở của Lê Văn C (có hai tiền án chưa được xoá án tích) ở thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh mua của C 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng để bán lại cho N. Sau khi mua được ma túy, N, Văn V, Quốc V1 đến nhà A để cùng nhau sử dụng ma túy, N, Quốc V1 cùng nhau chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó N, Quốc V1, Văn V, A cùng nhau sử dụng ma túy, đến khoảng 11 giờ ngày 24/5/2024 thì các đối tượng sử dụng xong ma túy thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố C phát hiện, thu giữ cùng tang vật.

Khám xét nơi ở của Lương Văn C2 thu giữ 0.111g là ma túy loại Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời.

[3] Các bị cáo N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lương Ngọc A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy, dụng cụ để các bị cáo cùng sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Trung N1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo C, N1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để kiếm lời bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Ngày 14/6/2017, bị cáo C bị kết án, chưa được xoá án tích; ngày 29/9/2020, bị cáo bị kết án nên được coi là tái phạm; đến nay chưa được xoá án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội, nên phải chịu tình tiết “tái phạm nguy hiểm”. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo C, N1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Quốc V2 có bố đẻ là ông Bùi Văn H được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng, được Bộ trưởng bộ N2 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp phát triển nông thôn, bản thân bị cáo được UBND xã T chứng nhận có nhiều đóng góp trong phong trào xây dựng quỹ từ thiện nhân đạo xã trực thái năm 2024 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, Bùi Văn V, A, C, N1 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng. Bị cáo Vũ Quốc V1 bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xử phạt 11 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong ngày 28/3/2024, chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Trong vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn N là người liên hệ để mua ma túy, trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ để các đối tượng cùng sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất; Bùi Văn V là người khởi xướng, bỏ tiền và chuyển tiền để mua ma túy; Vũ Quốc V1 là người cùng N đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy; Lương Ngọc A là người cho mượn địa điểm để sử dụng ma túy nên giữ vai ngang nhau, sau bị cáo N.

[8] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc tổ chức sử dụng ma túy, mua bán trái trép chất ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

[9.1] Đối với 01 coóng thủy tinh màu trắng chiều dài 13 cm, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, không có nhãn mác, chiều cao 12 cm, đường kính mặt đáy 6 cm, nắp chai được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu xanh chiều dài 19 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 30 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ không có nhãn mác - đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khoá màu hồng và 02 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu 1, 2 - đều không có giá trị; 0,086g ma tuý loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9.2] Đối với: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy M14 5G, màu xanh đen, số IMEI: 356353921186915, bên trong không lắp sim, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bên trong gắn sim số: 0985.865.158, số tiền trong tài khoản là 61 đồng, số seri sim 8984048000336304471; máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, bên trong gắn sim số: 0368.362.787, số tiền trong tài khoản là 1.687 đồng, có số seri sim là 8984048000903837451, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi Note 11, màu đen, số IMEI: 868441063521469, bên trong gắn sim số: 0968.033.265, số tiền trong tài khoản là 0 đồng, số seri sim là 8984048000335468486, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi K20 Pro, màu đỏ đen, số IMEI: 868204041149609, bên trong gắn sim số: 0336.281.299, số tiền trong tài khoản là 0 đồng, số seri sim là 8984048000380671431, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh, số IMEI: 866438057045291, bên trong gắn sim số 0347.533.282 số tiền trong tài khoản là 17.636 đồng, số seri sim là 8984048000927914696; đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, các bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Các vấn đề khác:

[10.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Văn C, quá trình điều tra không chứng minh được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.

[10.2] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lê Ngọc A1, Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

[10.3] Đối với chiếc xe mô tô Bùi Văn V, Vũ Quốc V1 và Nguyễn Văn N sử dụng để đi mua ma tuý, chiếc xe máy trên Bùi Văn V khai mượn của một người bạn xã hội (không rõ tên tuổi, địa chỉ), sau khi các đối tượng mua ma tuý, V đã trả lại chiếc xe máy trên. Các đối tượng không nhớ rõ biển số xe, không biết chủ sở hữu nên không thu giữ được; Đối với gói ma túy nhỏ gói trong mảnh giấy ăn Nam bớt ra để sử dụng, trên đường đi đã rơi ở vị trí nào không rõ, cơ quan CSĐT công an thành phố C đã truy tìm nhưng không thấy.

[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lương Ngọc A.

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn C

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Trung N1

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.

Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn V

Căn cứ điểm h (tái phám) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Quốc V1.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lương Ngọc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố Lê Văn C, Nguyễn Trung N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn V 07 (Bẩy) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Xử phạt bị cáo Vũ Quốc V1 07 (Bẩy) năm 08 (T4) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Xử phạt bị cáo Lương Ngọc A 07 (Bẩy) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 07 (Bẩy) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N1 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

01 coóng thủy tinh màu trắng chiều dài 13 cm, và 01 vỏ phong bì ký hiệu số 1 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 264/KL-KTHS, góc phải ký hiệu T1;

0,086g ma tuý loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilong màu trắng viền khoá màu hồng, 01 vỏ phòng bì ký hiệu số 2 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 264/KL-KTHS, góc phải ký hiệu T2;

01 vỏ chai nhựa màu trắng, không có nhãn mác, chiều cao 12 cm, đường kính mặt đáy 6 cm, nắp chai được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu xanh chiều dài 19 cm; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 30 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ không có nhãn mác;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy M14 5G, màu xanh đen, số IMEI: 356353921186915, bên trong không lắp sim, máy đã qua sử dụng

01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bên trong gắn sim có số seri sim 8984048000336304471; máy đã qua sử dụng

01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, bên trong gắn sim có số seri sim là 8984048000903837451, máy đã qua sử dụng

01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi Note 11, màu đen, số IMEI: 868441063521469, bên trong gắn sim có số seri sim là 8984048000335468486, máy đã qua sử dụng.

01 điện thoại di động, kiểu dáng Redmi K20 Pro, màu đỏ đen, số IMEI: 868204041149609, bên trong gắn sim có số seri sim là 8984048000380671431, máy đã qua sử dụng.

01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh, số IMEI: 866438057045291, bên trong gắn sim có số seri là 8984048000927914696, máy đã qua sử dụng.

- Truy thu của C số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng

(Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Bùi Văn V, Vũ Quốc V1, Lương Ngọc A, Lê Văn C, Nguyễn Trung N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh (01);
  • - VKSND tỉnh Hải Dương (01);
  • - Chi cục THADS TP. Chí Linh (01);
  • - Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân (Công an thành phố Chí Linh) (01);
  • - CQCSĐT-Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01);
  • - Các bị cáo (06);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (01);
  • - Lưu hồ sơ (01)
  • - Lưu Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger