Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/KDTM-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
  2. Ông Lại Hữu Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2024/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 573/2024/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Tổng công ty điện lực Thành phố H; Địa chỉ trụ sở: C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công T1 – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Tổng công ty Điện lực Thành phố H – Công ty Đ, (theo Giấy ủy quyền số 6306/UQ-EVNHCMC ngày 31/12/2023).

Ông Phạm Công Thành ủy Q lại cho: Bà Trang Thụy Thanh X – Chức vụ: Đội phó Đội QLTG; Địa chỉ liên hệ: D đường T, ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (theo giấy ủy quyền số 88/UQ-PCBC ngày 09/01/2024) Có mặt;

Bị đơn: Ông Trần Thanh P - Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P; Địa chỉ: số D, ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H và đại diện theo ủy quyền là bà Trang Thị Thanh X1 trình bày:

Ngày 25/07/2022, Chi nhánh Tổng công ty Điện lực Thành phố H - Công ty Đ (sau đây gọi tắt là “Công ty Đ”) đã ký Hợp đồng mua bán điện số 22002435 với ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P, mã khách hàng: PE15000324124, địa chỉ sử dụng điện: D3/50C, ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi ký Hợp đồng mua bán điện, Công ty Đ đã cung cấp điện cho ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P theo đúng nội dung Hợp đồng. Tuy nhiên, tiền điện sử dụng từ ngày 23/12/2022 đến ngày 28/02/2023, ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P đã không thanh toán tiền điện hàng tháng đầy đủ, đúng thời hạn. Tổng số tiền ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P nợ Tổng công ty Điện lực Thành phố H TNHH là 2.316.608 đồng (Hai triệu, ba trăm mười sáu ngàn, sáu trăm lẻ tám đồng), cụ thể như sau:

  • Giấy báo tiền điện tháng 01/2023 (sử dụng điện từ ngày 23/12/2022 đến 22/01/2023) số tiền là 1.874.070 đồng,
  • Giấy báo tiền điện tháng 05/2023 (sử dụng điện từ ngày 23/01/2023 đến 28/02/2023) số tiền là 442.538 đồng.

Tại khoản 1, 2 Điều 23 Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2012 có quy định: “Bên mua điện phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền điện ghi trong hóa đơn cho bên bán điện theo biểu giá điện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tiền điện được thanh toán tại trụ sở, nơi ở của bên mua điện hoặc tại địa điểm thuận lợi do hai bên thoả thuận trong hợp đồng mua bán điện. Bên mua điện chậm trả tiền điện phải trả cả tiền lãi của khoản tiền chậm trả cho bên bán điện”. Đồng thời, cũng tại điểm a khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2012 cũng có quy định: “Khách hàng sử dụng điện có nghĩa vụ thanh toán tiền điện đầy đủ, đúng thời hạn trong hợp đồng mua bán điện cho bên bản”.

Theo Khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng mua bán điện, các bên thỏa thuận hình thức và thời hạn thanh toán tiền điện như sau: “Hình thức thanh toán: Thanh toán điện tử. Thời hạn thanh toán: 05 ngày kể từ ngày Bên A thông báo thanh toán lần đầu”.

Mặc dù Công ty Đ đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở thanh toán tiền điện nhưng ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P vẫn không thanh toán. Do đó, Tổng công ty Điện lực Thành phố H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh buộc ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P thanh toán cho Tổng công ty Điện lực Thành phố H TNHH tiền điện còn nợ là 2.316.608 đồng (Hai triệu, ba trăm mười sáu ngàn, sáu trăm lẻ tám đồng), yêu cầu trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông P.

Tại phiên tòa:

Bà Trang Thị Thanh X1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền điện còn nợ là 2.316.608 đồng (Hai triệu, ba trăm mười sáu ngàn, sáu trăm lẻ tám đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền điện là 2.316.608 đồng. Bị đơn chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P thanh toán tiền điện theo Hợp đồng mua bán điện (phục vụ cho sản xuất các sản phẩm từ cao su và nhựa các loại) số 22002435 ngày 25/7/2022 giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H và ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P. Đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Theo kết quả trả lời của Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân huyện B thì Hộ kinh doanh Trần Thanh P có địa chỉ kinh doanh tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Căn cứ Hợp đồng mua bán điện số 22002435 ngày 25/7/2022 được ký kết giữa Tổng công ty Điện lực Thành phố H và ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P, mã khách hàng: PE15000324124, địa chỉ sử dụng điện: D3/50C ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có căn cứ xác định Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đã cung cấp điện cho ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P tại địa chỉ D ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Hợp đồng mua bán điện giữa Tổng công ty Điện lực Thành phố H và ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 117, Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định pháp luật nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

[3.2] Sau khi ký hợp đồng mua bán điện, Công ty Đ đã cung cấp điện cho ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P theo đúng nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng. Tuy nhiên, quá trình sử dụng điện ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P còn nợ tiền điện. Căn cứ Giấy báo tiền điện tháng 01/2023 và Giấy báo tiền điện tháng 05/2023 có cơ sở xác định ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P chưa thanh toán số tiền điện của tháng 01/2023 (sử dụng điện từ ngày 23/12/2022 đến 22/01/2023) với số tiền là 1.874.070 đồng và tháng 05/2023 (sử dụng điện từ ngày 23/01/2023 đến 28/02/2023) với số tiền là 442.538 đồng. Tổng cộng là 2.316.608 đồng (Hai triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm lẻ tám đồng).

[3.3] Tại Khoản 1 Điều 23 Luật Điện lực 2004 (sửa đổi, bổ sung 2012) có quy định: “Bên mua điện phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền điện ghi trong hóa đơn cho bên bán điện theo biểu giá điện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tiền điện được thanh toán tại trụ sở, nơi ở của bên mua điện hoặc tại địa điểm thuận lợi do hai bên thoả thuận trong hợp đồng mua bán điện”. Đồng thời, tại điểm a khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực 2004 (sửa đổi, bổ sung 2012) có quy định “Khách hàng sử dụng điện có nghĩa vụ thanh toán tiền điện đầy đủ, đúng thời hạn trong hợp đồng mua bán điện”.

[3.4] Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án thông báo cho ông P biết nhưng đến tại phiên tòa hôm nay ông P vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P thanh toán cho Tổng công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền 2.316.608 đồng (Hai triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm lẻ tám đồng).

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 127, Điều 128, Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23, Điều 46 Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2012;

Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty Điện lực Thành phố H đối với ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

    Buộc ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P có trách nhiệm trả cho Tổng công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền 2.316.608 đồng (Hai triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm lẻ tám đồng).

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày Tổng Công ty Điện lực Thành phố H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Ông Trần Thanh P – Chủ hộ kinh doanh Trần Thanh P phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    H lại cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0020933 ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).

    (Đã giải thích cho đương sự (người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự) biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự).

- Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/KDTM-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 92/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger