|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 19-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Duy Thấm;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Minh H
, sinh năm 1964, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị Mỹ H2 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T; con: Có 03 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08-6-2024 đến ngày 17-6-2024 được trả tự do và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt. -
Trần Ngọc Tố T1
, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà Đoàn Thị Thu T3 (đã chết); có chồng là Phan Quốc L; con: Có 01 người, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-6-2024 cho đến nay; có mặt. -
Ngô Thị H3
, sinh năm 1995, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con bà Ngô Thị Ú (đã chết) và cha không xác định; có chồng là Nguyễn Thành L1; con: Có 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-6-2024 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vợ bị cáo Nguyễn Minh H), vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hồng C1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (con bị cáo Nguyễn Minh H), vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (con bị cáo Nguyễn Minh H), vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị Thùy D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vợ anh Nguyễn Châu T4 đã chết, anh Nguyễn Châu T4 là con của bị cáo Nguyễn Minh H), vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Châu T5, sinh ngày 03-02-2010 và cháu Nguyễn Châu T6, sinh ngày 02-11-2014; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (con anh Nguyễn Châu T4 đã chết).
Người đại diện hợp pháp cho cháu T5, cháu T6: Chị Đỗ Thị Thùy D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Ông Bùi Văn S, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Bà Lê Thị Kim T7, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng từ tháng 4 năm 2023, Nguyễn Minh H bắt đầu thực hiện hành vi bán số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành phố cho nhiều người trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hằng ngày, khoảng 11 giờ, H ở phía sau nhà bếp của mình nếu có người cần mua số đề thì trực tiếp đến gặp và nói số đề cần mua, số tiền mua và đưa tiền cho H, sau đó H ghi thông tin vào tờ giấy giao cho người mua, nếu là người quen biết thì gọi điện thoại hoặc nhắn tin cho H qua số điện thoại 0357.045.xxx các con số đề cần mua và số tiền. Đến khoảng 16 giờ 00 phút hằng ngày, H tổng hợp các số đề đã bán được vào quyển tập học sinh, sau khi có kết quả xổ số nếu người mua có số trúng thì gặp trực tiếp H để nhận tiền. Tỷ lệ trúng đề như sau: Nếu trúng đề 02 số thì tỷ lệ 01 thắng 70 lần, nếu trúng đề 03 số thì tỷ lệ 01 thắng 600 lần.
Vào ngày 08-6-2024, theo kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Long An, H đã bán số đề cho 12 người với tổng số tiền 21.387.000 đồng nhưng H chỉ thực nhận số tiền 16.880.000 đồng. Những người mua số đề của H xác định được: Nguyễn Văn P mua các số đề 275, 75 với tổng số tiền 210.000 đồng; Nguyễn Văn G mua số đề 49 với tổng số tiền 120.000 đồng; Phạm Hoàng L2 mua các số đề 08 -74, 08-96, 74-96 với tổng số tiền 108.000 đồng; Ngô Thị H3 mua số đề 44 giúp cho Trần Ngọc Tố T1 số tiền 10.800.000 đồng; Trần Thị Tố T8 mua số đề 44 số tiền 10.800.000 đồng; Đặng Thị Đ mua các số đề 631, 613, 141, 31, 13, 41, 14 với tổng số tiền 744.000 đồng; Nguyễn Hồng C1 mua các số đề 578, 78 với tổng số tiền 175.000 đồng; Lê Thị Kim T7 mua các số đề 22, 88, 22-88 với tổng số tiền 360.000 đồng; Võ Thị L3 mua các số đề 366, 66, 62, 98 với tổng số tiền 1.430.000 đồng; Phạm Văn Đ1 mua các số đề 07, 24, 63 với tổng số tiền 540.000 đồng; Bùi Văn S mua số đề 07 với tổng số tiền 180.000 đồng; Phạm Văn L4 mua các số đề 035, 075, 35, 75 với tổng số tiền 4.200.000 đồng; Nguyễn Văn H4 mua các số đề 061, 021, 61, 21 với tổng số tiền 2.520.000 đồng. Ngoài ra, có Phạm Thanh T9, Lê Văn T10 đến nhà H mua số đề, nhưng H chưa bán. Đến 15 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, phối hợp cùng Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Minh H cùng vật chứng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
* Về thu giữ vật chứng:
- Tiền Việt Nam: 8.200.000 (tám triệu hai trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo Nguyễn Minh H bán số đề cho khách trong ngày 08-6-2024 có được.
- Tiền Việt Nam: 140.000 (một trăm bốn mươi nghìn) đồng của ông Bùi Văn S dùng để mua số đề.
- Tiền Việt Nam: 280.000 (hai trăm tám mươi nghìn) đồng của bà Lê Thị Kim T7 dùng để mua số đề.
- Tiền Việt Nam: 140.000 (một trăm bốn mươi nghìn) đồng của anh Nguyễn Hồng C1 dùng để mua số đề.
- Tiền Việt Nam: 586.000 (năm trăm tám mươi sáu nghìn) đồng của bà Đặng Thị Đ dùng để mua số đề.
Tất cả số tiền trên chứa trong bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Phạm Thị Minh N và dấu mộc của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55 màu đen, có số Imei 1: 860743059912752 của bị cáo Trần Ngọc Tố T1 sử dụng để liên lạc nhờ bị cáo Ngô Thị H3 mua dùm số đề.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu bạc, có số Imei 1: 867218059120519 của bị cáo Ngô Thị H3 sử dụng để liên lạc mua số đề.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, có số Imei 1: 357301902463695 của bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng lên mạng lấy kết quả xổ số kiến thiết trong ngày đối chiếu phơi đề để tính thắng thua với khách.
- 01 (một) máy tính Casio “M004” của bị cáo Nguyễn Minh H dùng để tính tiền thắng thua số đề.
- 03 (ba) cây viết, 01 (một) bàn nhựa, 01 (một) ghế nhựa của bị cáo Nguyễn Minh H dùng để ghi số đề.
* Về kê biên tài sản:
- Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 247, tờ bản đồ số 19, diện tích 99,90 m², đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 065864, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00077 QSDĐ/45/QĐ-UB(HL)(H) do UBND huyện T cấp ngày 23-01-2003 cho hộ ông Nguyễn Minh H đứng tên.
- Đối với Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 không đứng tên tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
Tại Bản cáo trạng số: 91/CT-VKSTC, ngày 24 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố: Bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H số tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”,
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Tố T1 số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Thị H3 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc".
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
* Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh kê biên quyền sử dụng đất nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh H.
* Ý kiến của các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận thêm.
Lời nói sau cùng các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện:
[2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Minh H: Vào ngày 08-6-2024 tại nhà của bị cáo Nguyễn Minh H thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Minh H đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền dựa trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Long An cho 12 đối tượng gồm Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn G, Phạm Hoàng L2, Đặng Thị Đ, Nguyễn Hồng C1, Lê Thị Kim T7, Võ Thị L3, Phạm Văn Đ1, Bùi Văn S, Phạm Văn L4, Nguyễn Văn H4, Trần Ngọc Tố T1. Sòng bạc hoạt động đến 15 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện T, phối hợp với xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 21.387.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo H đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi số đề một lúc cho 12 người đánh bạc và tổng số tiền dùng đánh bạc trong cùng một lần trị giá 21.387.000 đồng. Nên bị cáo H bị áp dụng tiết định khung “Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên” và “Tổng số tiền dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Đối với các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3: Vào ngày 08-6-2024, bị cáo Ngô Thị H3 đã sử dụng điện thoại của mình giúp sức cho bị cáo Trần Ngọc Tố T1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số đề số 44 của bị cáo Nguyễn Minh H với số tiền dùng để đánh bạc là 10.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Do đó bản Cáo trạng số 91/CT-VKSTC, ngày 24 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình của người tham gia đánh bạc. Tổ chức đánh bạc và đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và có thể phát sinh ra các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự tại địa phương. Nhằm đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc tại địa phương, giữ gìn trật tự công cộng nói chung và phòng chống các loại tội phạm nói riêng nên cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
- Đối với bị cáo Nguyễn Minh H: Là người trực tiếp bán số đề tạo điều kiện cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc, nhằm thu lợi bất chính, nên cần xử bị cáo H mức án cao hơn các bị cáo tham gia đánh bạc.
- Đối với các bị cáo tham gia đánh bạc: Trần Ngọc Tố T1 đã sử dụng số tiền 10.800.000 đồng vào mục đích đánh bạc nên cần xử bị cáo T1 mức án cao hơn bị cáo Ngô Thị H3, nhưng thấp hơn bị cáo Nguyễn Minh H. Đối với bị cáo Ngô Thị H3 là người giúp sức tạo điều kiện cho bị cáo Trần Ngọc Tố T1 đánh bạc nên xử bị cáo H3 mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo Nguyễn Minh H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Trần Ngọc Tố T1 có cha ruột là ông Trần Văn T2 – Là Công an viên xã T được tặng thưởng nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, do đó bị cáo T1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.3] Nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, sử dụng số tiền vào việc đánh bạc không lớn, mục đích phạm tội là sát phạt lẫn nhau nhằm thu lợi bất chính. Nên xét thấy cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[7] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- 03 (ba) cây viết; 01 (một) bàn nhựa; 01 (một) ghế nhựa; 01 (một) máy tính Casio "M004", là công cụ bị cáo H sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Việt Nam 9.346.000 (chín triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng bao gồm số tiền 8.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh H, số tiền 140.000 đồng thu giữ của ông Bùi Văn S, số tiền 280.000 đồng thu giữ của bà Lê Thị Kim T7, số tiền 140.000 đồng thu giữ của anh Nguyễn Hồng C1, số tiền 586.000 đồng thu giữ của bà Đặng Thị Đ là vật chứng của vụ án, tiền dùng vào mục đích đánh bạc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, có số Imei 1: 357301902463695 của bị cáo Nguyễn Minh H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu bạc, có số Imei 1: 867218059120519 của bị cáo Ngô Thị H3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55 màu đen, có số Imei 1: 860743059912752 của bị cáo Trần Ngọc Tố T1, là công cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[9] Xử lý tài sản bị kê biên:
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 318/LKB-ĐCSHS-KTMT, ngày 18-7-2024, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, kê biên quyền sử dụng đất diện tích 99,90 m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 065864, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: 00077 QSDĐ/45/QĐ-UB(HL)(H) do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 23-01-2003 cho hộ Nguyễn Minh H đứng tên, cho đến khi bị cáo Nguyễn Minh H chấp hành xong các khoản tiền phạt và án phí.
[10] Đối với Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn G, Phạm Hoàng L2, Đặng Thị Đ, Nguyễn Hồng C1, Lê Thị Kim T7, Võ Thị L3, Phạm Văn Đ1, Bùi Văn S, Phạm Văn L4, Nguyễn Văn H4 có hành vi tham gia đánh bạc dưới hình thức mua số đề của Nguyễn Minh H do số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, chuyển hồ sơ cho Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
[11] Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Hình phạt:
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng về tội “Tổ chức đánh bạc” để sung vào Ngân sách nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Tố T1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc” để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Thị H3 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc” để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
-
Xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) cây viết; 01 (một) bàn nhựa; 01 (một) ghế nhựa; 01 (một) máy tính Casio “M004”.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- + Tiền Việt Nam 9.346.000 (chín triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng bao gồm số tiền 8.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh H, số tiền 140.000 đồng thu giữ của ông Bùi Văn S, số tiền 280.000 đồng thu giữ của bà Lê Thị Kim T7, số tiền 140.000 đồng thu giữ của anh Nguyễn Hồng C1, số tiền 586.000 đồng thu giữ của bà Đặng Thị Đ. Tất cả số tiền trên chứa trong bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Phạm Thị Minh N và dấu mộc của Phòng K Công an tỉnh T.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, có số Imei 1: 357301902463695 của bị cáo Nguyễn Minh H;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu bạc, có số Imei 1: 867218059120519 của bị cáo Ngô Thị H3;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55 màu đen, có số Imei 1: 860743059912752 của bị cáo Trần Ngọc Tố T1.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-9-2024).
-
Xử lý tài sản bị kê biên:
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 318/LKB-ĐCSHS-KTMT, ngày 18-7-2024, của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, kê biên quyền sử dụng đất diện tích 99,90 m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 065864, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: 00077 QSDĐ/45/QĐ-UB(HL)(H) do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 23-01-2003 cho hộ Nguyễn Minh H đứng tên, cho đến khi bị cáo Nguyễn Minh H chấp hành xong các khoản tiền phạt và án phí.
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:Buộc các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Ngọc Tố T1, Ngô Thị H3 có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
-
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
