Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày 18 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Thư

Ông Vũ Văn Minh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; ĐKTT: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn S; ĐKTT: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị và anh Phạm Văn S kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 3 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng đến năm 2016 thì về sống tại thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng. Quá trình chung sống của vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể khắc phục được do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh S không chịu khó làm ăn, không lo toan gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, cãi vã, cuộc sống hôn nhân căng thẳng. Nay, xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn S để giải phóng hai bên khỏi ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Chị và anh Phạm Văn S có 02 con chung là: Phạm Minh Q, sinh ngày 18/10/2011 và Phạm Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/10/2017. Ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, trong quá trình tố tụng bị đơn là anh Phạm Văn S trình bày:

Anh S xác định phần trình bày của chị Lê Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống của vợ chồng là đúng. Thời gian vợ chồng chung sống cùng nhau có mâu thuẫn phát sinh do bất đồng trong tính cách, quan điểm, bản thân anh S có những lỗi sai do có những lúc uống rượu say về chửi bới vợ con, không quan tâm đến gia đình. Nay, chị Lê Thị H xin ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn vì xác định còn tình cảm với chị H và xác định vợ chồng cần phải có trách nhiệm chung với con cái, nên đề nghị Tòa án giúp đỡ để vợ chồng được đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị Lê Thị H có 02 con chung là: Phạm Minh Q, sinh ngày 18/10/2011 và Phạm Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/10/2017. Nếu anh và chị H không thể đoàn tụ, Tòa án giải quyết cho ly hôn, do các con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ và chị H cũng đề nghị được nuôi cả hai con chung nên anh đồng ý. Đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con tạm thời anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Phạm Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn S; giao các con chung Phạm Minh Q, sinh ngày 18/10/2011 và Phạm Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/10/2017 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con tạm thời không xem xét giải quyết; Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Văn S. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Phạm Văn S có địa chỉ đăng ký thường trú tại thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng và hiện cư trú tại thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện An Dương tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị H: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã A cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25 tháng 3 năm 2011, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các bên đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2011. Trong cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh S uống rượu say về chửi bới vợ con, không quan tâm đến gia đình. Anh Phạm Văn S có nguyện vọng vợ chồng được đoàn tụ nhưng lại không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, chị Lê Thị H không đồng ý đoàn tụ. Vợ chồng hiện sống ly thân, không còn sự quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị H với anh Phạm Văn S.

[5] Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S có 02 con chung là Phạm Minh Q, sinh ngày 18/10/2011 và Phạm Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/10/2017. Ly hôn, chị H và anh S đều có quan điểm đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng. Xét quan điểm của các bên đương sự là tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên chấp nhận.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S đều có quan điểm tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[8] Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ Điều 6; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1 ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Phạm Văn S.
  2. Về con chung: Giao các con chung Phạm Minh Q, sinh ngày 18/10/2011 và Phạm Vũ Ngọc L, sinh ngày 14/10/2017 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con tạm thời không xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008546 ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện An Dương;
  • - Chi cục THA dân sự huyện An Dương;
  • - UBND xã An Đồng;
  • (ĐKKH ngày 25/3/2011);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Ngọc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger