|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Thế Ứng
Bà Lê Thị Hồng Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Quang D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1971 tại tỉnh Tiền Giang; căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang H (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); anh chị em có 05 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1955, bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 1998 nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 01/4/2024 cho đến nay (có mặt).
Đại diện theo pháp luật cho bị cáo Dương Quang D: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955 (có mặt);
Địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Người bào chữa cho bị cáo Dương Quang D: Bà Trần Thị Thảo V – Luật sư Công ty L Chi nhánh C (có mặt);
Địa chỉ: Số F, đường H, khu phố M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị hại:
Mai Thị Đ, sinh năm 1947 (có đơn xin vắng);
Địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 27/3/2024, Dương Quang D điều khiển xe đạp đến Thánh Tịnh H An P thuộc ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để làm công quả (phục vụ) do ngày 27/3/2024 tại Tòa thánh có tổ chức lễ hội. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bà Mãi Thị Đ1, sinh năm 1947, nơi thường trú: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đến Thánh Tịnh H An P để dự lễ, khi đến nơi bà Đ1 vào phòng nghỉ của nữ thay đồ và để túi xách màu trắng, bên trong túi xách có một cái bóp (ví) có số tiền 8.850.000 đồng ở góc tủ quần áo, sau đó ra ngoài phụ tiếp khách. Khoảng 11 giờ cùng ngày, D đi ngang phòng nghỉ của nữ thì nhìn thấy cửa phòng không khóa, không có người nên nảy sinh ý định vào tìm tài sản lấy trộm, D đi vào phòng thì nhìn thấy ở gốc tủ quần áo có để một túi xách màu trắng, nên đến lục túi xách của bà Đ1 thì thấy có một cái bóp cầm tay của nữ nên đã lấy cái bóp nhét vào phía trước lưng quần bên phải sau đó đi ra khỏi phòng. D đi ra bãi rác phía bên hông của Tòa T lục bóp lấy hết tiền có trong bóp rồi vứt bỏ bóp tiền lại cạnh bãi rác rồi đi về nhà. Sau khi trộm được tiền, D đã tiêu xài cá nhân hết 700.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Mai Thị Đ trình báo Công an xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. D bị mời làm việc và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, Dương Quang D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp trên của mình.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã tạm giữ:
- Tiền Việt Nam 8.150.000 đồng;
- 01 Áo sơ mi, ngắn tay, họa tiết hình bông;
- 01 Quần tây dài, màu đen;
- 01 Đôi dép da, màu xám, nhãn hiệu AMAN.
Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã ra quyết định xử lý vật chứng và đã trao trả: tiền Việt Nam 8.150.000 đồng cho bà Mai Thị Đ vào ngày 18/4/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Dương Quang D đã bồi thường số tiền 700.000 đồng đã chiếm đoạt của bà Mai Thị Đ. Bà Đ đã nhận đủ tiền và có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự cho bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tâm thần theo trưng cầu số 156/2024/KLGĐ ngày 22/5/2024 của Trung tâm P kết luận đối với Dương Quang D như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (ngày 27/3/2024) và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0–ICD10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (ngày 27/3/2024) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKSTXCL ngày 19/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố Dương Quang D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Quang D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã C, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Dương Quang D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; khi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy 01 Áo sơ mi, ngắn tay, họa tiết hình bông; 01 Quần tây dài, màu đen; 01 Đôi dép da, màu xám, nhãn hiệu AMAN.
Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Quang D có ý kiến cho rằng: Thống nhất về tội danh, về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, mức hình phạt cho bị cáo mà phía Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Phía người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân của bị cáo xử bị cáo với mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phục mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về việc vắng mặt bị hại Mai Thị Đ có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của bà Đ và việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo D. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía bị hại.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quang D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 11 giờ, ngày 27/3/2024 tại Thánh Tịnh H An P thuộc ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Dương Quang D đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 8.850.000 đồng của bà Mai Thị Đ.
[4] Xét lời thừa nhận tội của bị cáo Dương Quang D là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai người bị hại và phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Dương Quang D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
[5] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm, thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Do đó, bị cáo có nhân thân tốt.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; khi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo D. Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện bị cáo bị bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử lý bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[10] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 Áo sơ mi, ngắn tay, họa tiết hình bông; 01 Quần tây dài, màu đen; 01 Đôi dép da, màu xám, nhãn hiệu AMAN là tài sản của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Mai Thị Đ đã nhận lại đủ số tiền 8.850.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận một phần đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
[14] Xét ý kiến và đề nghị của phía người bào chữa cho bị cáo Dương Quang D là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận lời đề nghị của phía người bào chữa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố: Bị cáo Dương Quang D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Quang D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 Áo sơ mi, ngắn tay, họa tiết hình bông; 01 Quần tây dài, màu đen; 01 Đôi dép da, màu xám, nhãn hiệu AMAN.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024).
-
Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Dương Quang D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo (người bào chữa cho bị cáo) được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
(Đã ký)
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
