TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-9-2024 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Thanh Nhàn;
- Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 592/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/7/2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thái Hồng D, sinh năm 1990; thường trú tại: Tổ A, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1990; thường trú tại: Tổ A, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong Đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thái Hồng D trình bày:
Về hôn nhân: Bà Phạm Thái Hồng D và ông Nguyễn Văn D1 sống chung với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/12/2009 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông D1 không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con, bà D không còn tình cảm với ông D1 nữa. Hiện tại, bà D và ông D1 đã ly thân từ năm 2019. Nay mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông D1.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà D và ông D1 có 02 người con chung tên: Nguyễn Hữu Gia B, sinh ngày 19/10/2015 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/01/2010. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông D1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Căn cước công dân tên Phạm Thái Hồng D (bản sao); 01 sổ hộ khẩu (bản sao), 01 CMND của ông D1 (bản sao); giấy đăng ký kết hôn (bản chính); 01 giấy khai sinh của cháu Đ (bản sao có mộc), giấy khai sinh của cháu B (bản sao); đơn từ chối hòa giải; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt (bản chính); bản tự khai của bà D;
* Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải đoàn tụ, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, ông D1 đều vắng mặt không có lý do. Ông D1 không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà D và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
* Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung thì không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký thường trú tại: Khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[1.3] Về việc xét xử vắng mặt:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt. Việc vắng mặt của bị đơn không vì lý do bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thái Hồng D và ông Nguyễn Văn D1 trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước vào năm 2009 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 09/12/2009. Như vậy, hôn nhân giữa bà D và ông D1 là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng, bà D xác định giữa bà D và ông D1 đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau và đã sống ly thân từ năm 2019. Hiện tại, bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn D1. Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông D1 không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, xem như bị đơn từ bỏ quyền chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không còn hạnh phúc. Nguyên đơn xác định vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn. Bị đơn không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến. Điều này cho thấy ông D1 không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông D1 đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà D và ông D1 có 02 con chung tên Nguyễn Hữu Gia B, sinh ngày 19/10/2015 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/01/2010. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục quyền trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông D1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu Gia B và cháu Nguyễn Xuân Đ đang sinh sống ổn định với mẹ là nguyên đơn, cuộc sống ổn định. Hai cháu B và Đ đều có nguyện vọng được sống chung với bà D. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là cháu Nguyễn Hữu Gia B và Nguyễn Xuân Đ cho bà D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ông Nguyễn Văn D1 có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bị đơn thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thái Hồng D về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Văn D1.
- - Về hôn nhân: Bà Phạm Thái Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn D1.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Hữu Gia B, sinh ngày 19/10/2015 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/01/2010 cho bà Phạm Thái Hồng D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn D1 không phải thực hiện nghĩa vụ cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Ông Nguyễn Văn D1 có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông D1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ này.
- Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Phạm Thái Hồng D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003370 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
