|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 92/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2024 V/v tranh chấp "ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Tiềm
- Ông Nguyễn Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Phạm Ngọc M, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Phạm Ngọc M do quen biết và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29 ngày 27/6/2005. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cải nhau, đến năm 2017 cho đến nay thì phát sinh mâu thuẫn nhiều hơn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp nhau, anh M thường xuyên chửi chị. Chị và anh M đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 01/2023 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc. Nên chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Ngọc M.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Đang T1, sinh ngày 11/5/2002 và Phạm Thị Cát T2, sinh ngày 10/10/2007. Khi ly hôn con chung tên T1 đã thành niên và có khả năng lao động được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Cát T2, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vào năm 2014 vợ chồng chị có mượn của bà Nguyễn Thị Đ số tiền 50.000.000 đồng. Khi ly hôn chị yêu cầu chia đôi nợ chung, chị và anh M mỗi người phải trả cho bà Đ số tiền 25.000.000 đồng. Nhưng tại phiên tòa chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung để chị và anh M tự thỏa thuận.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Ngọc M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Đối với số tiền 50.000.000 đồng mà vợ chồng chị T và anh M nợ bà thì trong vụ án này bà không yêu cầu tòa án giải quyết. Để bà và chị T anh M tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì bà sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Ngọc M vắng mặt không lý do và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt có đơn xin vắng. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt anh M bà Đ tại phiên tòa là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, bị đơn anh Phạm Ngọc M có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[3] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị T và anh Phạm Ngọc M tổ chức đám cưới và chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29 ngày 27/6/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cải nhau, đến năm 2017 cho đến nay thì phát sinh mâu thuẫn nhiều hơn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp nhau, anh M thường xuyên đánh chị. Chị và anh M đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 01/2023 cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đoàn tụ lại sống không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh M.
[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi chị T và anh Minh xác L quan hệ vợ chồng vào năm 2005, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Từ lúc ly thân cho đến nay thì chị T và anh M không còn liên lạc với nhau. Sau khi tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh M để thông báo về yêu cầu ly hôn của chị T, nhưng anh M không có ý kiến gì; không có mặt tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, anh M không thể hiện được ý kiến, cũng không đưa ra biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc anh M không đến trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án là anh M đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh M.
[3.2] Từ những tình tiết trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị T anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Đang T1, sinh ngày 11/5/2002 và Phạm Thị Cát T2, sinh ngày 10/10/2007. Khi ly hôn con chung tên T1 đã thành niên và có khả năng lao động được nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Cát T2, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
[4.1] Đối với con chung tên Phạm Đang T1 hiện đã thành niên, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh M thì không có ý kiến gì nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
[4.2] Đối với con chung tên Phạm Thị Cát T2 thì từ khi chị T và anh M sống ly thân đến nay con chung do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định cuộc sống và đảm bảo tốt về mọi mặt, sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay thì anh M cũng không đến cũng không có ý kiến đối với yêu cầu về con chung. Đồng thời, theo lời khai của cháu T2 có nguyện vọng được sống với chị T khi chị T và anh M ly hôn. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu T2, nên giao cháu Phạm Thị Cát T2 cho chị Trần Thị T chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh M không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị T trình bày không có, anh M thì không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận, anh M thì không có ý kiến gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ không có yêu cầu gì về số tiền 50.000.000 đồng mà chị T anh M nợ bà. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Phạm Ngọc M.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Cát T2, sinh ngày 10/10/2007 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Phạm Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu.
Anh Phạm Ngọc M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0004816 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy. Nên nên xem như chị T đã nộp xong tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 92/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 92/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
