TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 92/2024/DS-ST Ngày 13-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v tranh chấp Hợp đồng hùn vốn và
tranh chấp hợp đồng mua bán,
hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Cẩm T, sinh năm: 1988 (hộ kinh doanh P1) (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm: 1973 (Có mặt).
- Ông Lê Phước H1, sinh năm: 1972(Có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1962.
- Bà Nguyễn Cẩm G, sinh năm 1968.
- Ông Nguyễn Vủ A, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Cẩm T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Cẩm G, ông Nguyễn Vủ A (Văn bản ủy quyền ngày 03/11/2023 và ngày 06/11/2023).
- Ngân hàng N.
Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, Quận B, thành Phố Hà Nội.
Người đại diện: Ông Trần Thanh T1 - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Kiều O - Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện P, tỉnh Cà Mau theo Quyết định ủy quyền số 210A/QĐ-NHNoPT ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện P (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) trình bày:
Năm 2014, đại lý (hộ kinh doanh P1) có đầu tư thức ăn vật tư nuôi trồng thủy sản cho Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H, đến ngày 07/10/2019 ông H1, bà H còn nợ đại lý là 158.960.000 đồng.
Ngày 25/10/2020, đại lý (hộ kinh doanh P1) có hợp đồng hùn vốn nuôi tôm công nghiệp với ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H. Theo hợp đồng ông H1, bà H đầu tư đất và nhân công, bên bà T đầu tư con giống, thức ăn, phân thuốc và các trang thiết bị khác để phục vụ nuôi tôm. Thời hạn hợp đồng 05 năm, theo thỏa thuận khi thu hoạch tôm thì trừ tất cả các khoảng bên bà T đầu tư, phần lợi nhuận còn lại là chia hai, trường hợp không có lợi nhuận cộng dồn khi kết thúc hợp đồng mỗi bên chịu 1/2. Hợp đồng thực hiện đến tháng 10/2022, sau khi kết thúc vụ tôm hai bên chốt nợ. Đối chiếu công nợ ngày 01/11/2022, ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H còn nợ đại lý của bà số tiền 2.772.720.000 đồng và 17.878.000 đồng. Ngoài ra, quá trình nuôi tôm, ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H còn mượn thêm 171.000.000 đồng để chi sài cá nhân.
Do ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H đã vi phạm hợp đồng và công nợ vượt quá khả năng chi trả nên bà yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H có nghĩa vụ thanh toán cho bà 3.120.558.000 đồng và lãi chậm trả theo quy định của pháp luật (10%/năm) từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm; yêu cầu giao 03 thửa đất số 211, 214, 277, tờ bản đồ số 36 có tổng diện tích 14.800m² tọa lạc tại khóm H, thị Trấn C, huyện P để bà quản lý và sử dụng đến hết hợp đồng.
Bà Nguyễn Cẩm T thừa nhận ông Vủ A có vào lấy vật tư mang về nhưng đó là đồ đầu tư thêm chứ không phải vật tư chung ban đầu. Trước khi ông Vũ Al vào thì ông Vũ A1 có thông báo cho ông H1, bà H đến lấy vật tư và ông H1, bà H có đồng ý cho ông Vủ A lấy. Từ tháng 10/2023, ông P (sđt: 0919.024.xxx) có gọi điện và nhắn tin nhiều lần cho ông H1 (sđt: 0913.848.xxx) nhưng ông H1 không nghe máy hay trả lời, ông P cũng có nhiều lần vào nhà ông H1, bà H nhưng ông H1, bà H không có nhà. Từ đó đến nay, hai bên chưa gặp mặt trực tiếp để tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024, bà Nguyễn Cẩm T có đơn thay đổi yêu cầu, bà yêu cầu hủy hợp đồng hợp tác kinh doanh ký ngày 25/10/2020 giữa hộ Kinh doanh
Phương T2 với ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H, lỗi hoàn toàn thuộc về vợ chồng ông H1, bà H do vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể là ông H1, bà H không có nhân công nên không tiếp tục thả tôm được; làm mất tài sản; công nợ vượt quá khả năng chi trả; ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H có nghĩa vụ thanh toán cho bà 3.120.558.000 đồng và lãi chậm trả theo quy định của pháp luật (10%/năm) từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm và thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu giao buộc ông H1, bà H giao 03 thửa đất số 211, 214, 277, tờ bản đồ số 36 có tổng diện tích 14.800m², tọa lạc tại khóm H, thị Trấn C, huyện P để bà quản lý và sử dụng đến hết hợp đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T tiếp tục giữ nguyên thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông H1, bà H giao 03 thửa đất số 211, 214, 277, tờ bản đồ số 36 có tổng diện tích 14.800m², tọa lạc tại khóm H, thị Trấn C, huyện P; yêu cầu ông H1, bà H thanh toán các khoản nợ cho bà như sau:
- - Tiền mua thức ăn từ năm 2014 đến năm 2019 còn nợ 158.960.000 đồng theo bản bản xác nhận công nợ ngày 07/10/2019, bà yêu cầu tính lãi suất theo quy định từ tháng 11/2022 đến ngày xét xử;
- - Số tiền nợ 171.000.000 đồng tiền mượn để chi sài cá nhân, bà không yêu cầu tính lãi;
- - Số tiền 2.772.720.000 đồng tiền đầu tư để nuôi tôm công nghiệp, bà yêu cầu tính tiền lãi suất theo quy định pháp luật từ tháng 11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.
- - Số tiền 17.878.000 đồng là tiền điện phát sinh trong giai đoạn nuôi tôm, bà yêu cầu tính lãi từ tháng 11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Tổng cộng ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H phải thanh toán cho bà Nguyễn Cẩm T số tiền 3.120.558.000 đồng.
- Tại phiên hòa giải ngày 22 tháng 8 năm 2023, ngày 06/11/2023 và tại phiên tòa bà Nguyễn Mỹ H trình bày:
Bà Nguyễn Mỹ H thừa nhận có nợ bà Nguyễn Cẩm T số tiền 329.960.000 đồng tiền đầu tư thức ăn và mượn chi sài cá nhân (tiền đầu tư thức ăn là 158.960.000 đồng, tiền mượn 171.000.000 đồng), bà đồng ý trả cho bà T, nhưng không đồng ý tính lãi suất theo yêu cầu của bà T.
Bà Nguyễn Mỹ H thừa nhận có Hợp đồng hợp tác kinh doanh vào ngày 25/10/2020 giữa ông Nguyễn Văn P và ông Lê Phước H1. Về hợp đồng, bà Nguyễn Mỹ H không đơn phương chấm dứt hợp đồng, không được bà Nguyễn Cẩm T liên lạc như bà T trình bày, việc bà T không liên lạc được với ông H1 thì bà H không biết. Trong quá trình nuôi tôm, ông Nguyễn Văn P là người đứng ra quản lý, không có mặt bà T, lúc thu thì có bà T tham gia. Sau vụ nuôi tháng 10/2022, thấy việc nuôi tôm không đạt hiệu quả nên ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Cẩm G (vợ ông P), ông Nguyễn Vũ A1 (con ông P), ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H tạm dừng thả tôm và qua Tết thả. Sau Tết, bà H có đến nhà tìm ông P nhưng gặp bà G để thoả thuận tiếp tục thả tôm vì lý do ông H1 sức khoẻ không đảm bảo và ông H1, bà H không có người làm thuê nên bà G có nói để bà kiếm người làm thuê, khi nào có người thì tiếp
tục thực hiện nhưng từ đó đến nay 02 bên không có gặp nhau để tiếp tục thoả thuận về việc nuôi tôm. Nay, bà H yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, không chấp nhận chịu hậu quả do vi phạm hợp đồng như bà T trình bày là trả số tiền chốt nợ từ ngày 01/11/2022 là 2.772.720.000đ và 17.878.000đ tiền điện phát sinh còn lại sau vụ nuôi.
- Khoảng tháng 02/2023 ÂL, ông Nguyễn Vủ A đã đến nhà bà H và tự lấy một số trang thiết bị do đại lý P1 đầu tư mang về. Bà không yêu cầu Vủ A trả lại các tài sản này.
- Tại phiên hòa giải ngày 06/11/2023 và tại phiên tòa ông Lê Phước H1 trình bày:
Ông Lê Phước H1 thừa nhận có nợ số tiền 329.960.000 đồng và đồng ý trả tiền cho nguyên đơn. Đối với hợp đồng góp vốn nuôi tôm: Ông Lê Phước H1 thừa nhận có ký hợp đồng với ông P; việc ông Vủ A vào lấy trang thiết bị vật tư có báo cho ông, ông có đồng ý cho ông Vủ A lấy vật tư, việc ông Vủ A lấy vật tư thì ông nghĩ là của ông Vũ A1 đem vào thì lấy đi nhưng khi kiểm tra lại thì có lấy một số trang thiết bị của hai bên đầu tư chung. Sau khi hai bên chốt nợ và kết thúc vụ nuôi tôm vào tháng 10/2022, ông P có vào nhà ông H1, sau đó ông H1 có báo lại với ông P về việc ông Vủ A tự ý vào lấy một số vật tư nuôi tôm (theo Bản trình bày ý kiến ngày 25/9/2023), ông P có vào xem nhưng không có ý kiến gì. Ông H1 cho rằng bà G có gọi kêu ông đến cửa hàng để tiếp tục hợp tác nuôi tôm nhưng khi đến bà G yêu cầu ông H1 trả tiền vay Ngân hàng để đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về chuyển tên cho bà G nên ông H1 bỏ về. Ông H1 thừa nhận bà T có gọi điện thoại một vài lần cho ông H1 nhưng ông H1 không nghe máy vì lý do ông giao kết hợp đồng với ông P chứ không phải bà T. Ông H1 không nghe máy để ông P vào nhà trực tiếp thảo luận lại về vấn đề nuôi tôm nhưng ông P không vào nhà trực tiếp gặp mặt ông H1. Ông Lê Phước H1 cho rằng không nhận được cuộc gọi từ ông P và không để ý có tin nhắn từ ông P hay không. Từ đó đến nay, hai bên cũng chưa gặp mặt trực tiếp để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Ông Lê Phước H1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Nếu bên nào chấm dứt hợp đồng thì bên đó phải chịu chi phí đầu tư. Bảng xác nhận công nợ ngày 01/11/2022 giữa ông với Đại lý Phương T2 là do ông ký, ông thừa nhận các chi phí nuôi đến ngày xác nhận công nợ là 2.722.720.000 đồng, đây là nợ chung của ông với ông P. Đối với số tiền chi phí sau đối chiếu công nợ 17.878.000đ, ông đồng ý trả nhưng chi phí phải hợp lý. Đối với các trang, bị Nguyễn Vủ A lấy, ông không yêu cầu trả lại cho ông.
Tại bản tự khai ngày 06/11/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày:
Năm 2020, ông P có hợp đồng hùn vốn hợp tác nuôi tôm công nghiệp với ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H, thời hạn hợp đồng 05 năm, do ông đứng tên giấy phép kinh doanh. Lúc đầu ông và ông H1, bà H trực tiếp nuôi tôm, nhưng về sau do sức khỏe không ổn định, ông đã chuyển giao cho con gái ông là Nguyễn Cẩm T trực tiếp quản lý và giao dịch với ông H1, bà H. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 6118004762 ngày 05/01/2021 đại diện hộ là bà Nguyễn Cẩm T, tên cơ sở là “Phương Tú”. Từ đó đến nay, việc kinh doanh do bà T quản lý, giao dịch, thực tế ông P đã giao tất cả quyền trách nhiệm, nghĩa vụ của đại lý cho bà Nguyễn Cẩm T. Khi chuyển giao ông có thông báo cho ông H1, bà H biết và ông H1, bà H đồng ý thực hiện hợp đồng. Các bản đối chiếu công nợ là do bà Nguyễn Cẩm T thực hiện với ông H1, bà
H. Đối với số tiền 3.120.558.000 đồng, ông P yêu cầu ông H1, bà H trả đủ cho đại lý và lãi suất theo quy định pháp luật.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 06/11/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan bà Nguyễn Cẩm G trình bày:
Hộ kinh doanh Phương T2 hoạt động từ năm 2012 đến năm 2021 giao lại cho con gái bà là bà Nguyễn Cẩm T trực tiếp quản lý. Hợp đồng hùn vốn, xác nhận công nợ bà không tham gia. Sau vụ nuôi tôm tháng 10/2022, ông H1, bà H có ra gặp bà để bàn bạc thực hiện hợp đồng, nhưng thái độ của ông H1, bà H không hợp tác, trì hoãn việc xuống tôm vì lý do không có công nhân. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1, bà H thanh toán đủ cho hộ kinh doanh Phương T2 số tiền 3.120.558.000 đồng.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 06/11/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan ông Nguyễn Vủ A trình bày:
Vào khoảng cuối tháng 5/2022, gia đình ông có bàn bạc thống nhất đưa ông và thêm 01 công nhân nữa vào khu nuôi tôm ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H để phụ ông H1, bà H làm công. Trong khi C vào làm thì bị mất trộm nhiều trang thiết bị nuôi tôm và thiết bị nuôi tôm bị hư hỏng nhiều do thời gian dài không hoạt động. Ông đã bàn bạc với gia đình và ông H1 mang vật tư của ông vào ao nuôi tôm để tiếp tục nuôi tôm. Cụ thể các trang thiết bị như: 01 máy phát điện (D36); 01 cái motor phát điện 30kw; 02 cái máy cho ăn; 04 máy thổi oxy; 06 cái motor bầu nước; 200m ống bơm nước Đạt H2 loại 150mm; 50m ống bơm nước Đạt H2 loại 115mm; 05 cái motor 3HP; 01 cái đảo bơm nước; 70 quạt đảo nước; 30 khung bệ can; 60 cái cal 30 lit; 10 cái láp 3,2 ly; 05 cái hợp giảm tốc. Quá trình nuôi tôm, việc mua thức ăn, thuốc đều có bàn bạc nhưng khi kết thúc vụ tôm tháng 10/2022, ông H1, bà H ra nói với ông P, bà G là không đồng ý để ông tiếp tục đứng nuôi vì chi phí quá cao. Năm 2023, do thiếu vật tư nuôi tôm nơi khác nên ông đã gom tất cả trang thiết bị, vật tư đã cho mượn có sự chứng kiến của ông H1, bà H để chuyển sang ao nuôi khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Trần Kiều O – Đại diện Ngân hàng N trình bày: Hiện nay ông H1, bà H có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 12.595m² thửa số 0830; 0831 toạ lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau) tổng số tiền vốn và lãi là 541.678.863 đồng. Nay Ngân hàng N không yêu cầu ông H1, bà H trả tiền nếu việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến phần đất thế chấp ngân hàng.
* Tại phiên tòa, ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H đều thừa nhận ông, bà hiện có phần đất toạ lạc tại khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau, hiện tại phần đất đang thế chấp tại Ngân hàng N ngoài ra ông bà không còn tài sản nào khác và cũng không có khả năng thanh toán nợ cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Vụ án từ khi thụ lý đến ngày đưa ra xét xử đã vi phạm thời hạn xét xử; Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1). Buộc bị đơn ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H trả cho bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) số tiền 1.748.153.832 đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) số tiền 1.396.248.100 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H có nơi cư trú tại huyện P, nguyên đơn bà bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp “Hợp đồng hợp tác vốn, hợp đồng mua bán và hợp đồng vay tài sản” nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) khởi kiện bị đơn ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H về việc bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền hùn vốn nuôi tôm công nghiệp còn nợ số tiền 2.790.598.000 đồng, tiền vay mượn 171.000.000 đồng, tiền nợ mua vật tư nuôi tôm 158.960.000 đồng. Xét tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp “Hợp đồng hùn vốn", "Hợp đồng mua bán tài sản", "Hợp đồng vay tài sản".
[3] Xét hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 25/10/2020 của H3 kinh doanh Phương T2 với ông ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H.
[3.1] Hội đồng xét xử nhận thấy: Về hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 25/10/2020 của H3 kinh doanh Phương T2 với ông ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H mặc dù không có công chứng, chứng thực nhưng đã được các bên thừa nhận, hợp đồng không vi phạm điều cấm. Xét thấy, Hợp đồng đảm bảo các quy định tại Điều 116 và Điều 117 của Bộ luật Dân sự, do đó hợp đồng đã phát sinh hiệu lực.
[3.2] Tại phiên tòa bà Nguyễn Cẩm T yêu cầu hủy hợp đồng, do lỗi thuộc về ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H do vi phạm thỏa thuận hợp đồng, cụ thể là bị đơn không thuê được công nhân để xuống tôm; nguyên đơn có liên hệ nhưng không gặp được bị đơn để bàn bạc xuống tôm; Công nợ phát sinh vượt quá khả năng chi trả của bị đơn và yêu cầu ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H phải trả cho bà số tiền chi phí đâu tư nuôi tôm còn nợ Đại lý 2.790.598.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi suất theo quy định từ tháng 11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H không đồng ý hủy hợp đồng, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, nếu nguyên đơn hủy hợp đồng thì nguyên đơn tự chịu mọi chi phí đầu tư.
Xét yêu cầu hủy hợp đồng của nguyên đơn: Tại phiên tòa, ông H1, bà H thừa nhận tài sản của ông bà có một phần đất tọa lạc tại khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau có diện tích là 12.595m² đã thế chấp Ngân hàng N chi nhánh huyện P để vay số tiền tính đến thời điểm hiện tại gốc và lãi là 517.977.342 đồng, giá trị phần đất theo định giá của ngân hàng là 596.700.000 đồng ngoài ra không còn tài sản nào khác. Ông H1, bà H thừa nhận không có khả năng để thanh toán số tiền nợ cho Đại lý Phương T2. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời trình bày của ông H1, bà H thì ông, bà không còn khả năng thanh toán nợ cho H3 kinh doanh Phương Tú, tài sản của của ông, bà đã thế chấp ngân hàng. Căn cứ quy định tại Điều cuối cùng "Hiệu lực Hợp đồng" của hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 25/10/2020 có quy định bên A có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng xét thấy trường hợp công nợ phát sinh vượt quá khả năng chi trả của bên B. Như vậy, theo quy định của hợp đồng thì nguyên đơn có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Do đó, yêu cầu hủy hợp đồng của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận.
Xét về lỗi dẫn đến hợp đồng bị hủy: Tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng bị đơn không có nhân công để quản lý ao nuôi khi xuống tôm, nguyên đơn liên hệ nhiều lần nhưng không gặp được bị đơn. Bị đơn cho rằng nguyên đơn không có liên hệ, không vào gặp trực tiếp để bàn bạc. Nhận thấy, việc nguyên đơn có liên hệ với bị đơn bằng điện thoại, bị đơn thừa nhận có nhưng cho rằng các bên phải gặp trực tiếp để bàn bạc, thỏa thuận không thể liên hệ qua điện thoại. Quá trình giải quyết vụ cũng như tại phiên tòa nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bị đơn không đồng ý để nguyên đơn tiếp tục xuống tôm. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đều yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng từ khi kết thúc vụ tôm tháng 10/2022, bị đơn cũng không liên hệ yêu cầu nguyên đơn tiếp tục xuống tôm. Nhận thấy, các bên có mâu thuẫn với nhau nhưng không gặp nhau để bàn bạc đi đến thống nhất, từ đó dẫn đến hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện được là do lỗi của các bên nên các bên phải chịu hậu quả dẫn đến hợp đồng bị hủy.
Tại biên bản xác nhận công nợ ngày 01/11/2022, ông H1 bà H đều thừa nhận còn nợ tiền vật tư, trang thiết bị nuôi tôm phát sinh từ khi ký kết hợp đồng đến ngày xác nhận công nợ. Tại phiên tòa, các bên đều thừa nhận nợ đến khi kết thúc hợp đồng mỗi bên phải chịu 50% chi phí phát sinh.
Do hủy hợp đồng là lỗi của các bên nên mỗi bên phải chịu ½ công nợ phát sinh trong thời gian hùn nuôi tôm. Theo công nợ ngày 01/11/2022, số tiền nợ là 2.772.720.000 đồng, mỗi bên phải chịu ½. Như vậy, Đại lý thức ăn thủy sản P1 phải chịu 1.386.360.000 đồng, ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H phải chịu 1.386.360.000 đồng.
Công nợ phát sinh sau khi xác nhận công nợ ngày 01/11/2022 là 17.878.000 đồng. Xét thấy, chi phí hợp lý là tiền điện thực tế Đại lý P1 đã thanh toán từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2022 là 15.979.664 đồng là có căn cứ, được chấp nhận. Không chấp nhận 1.898.336 đồng tiền chi phí sửa motor giảm sốc. Số tiền được chấp nhận 15.979.664 đồng là chi phí phát sinh trong thời gian hùn vốn muôi tôm nên mỗi bên phải chịu ½ chi phí. Như vậy, ông H1, bà H phải có nghĩa vụ trả cho Đại lý thức ăn thủy sản P1 7.989.832 đồng.
Cộng hai khoản trên ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H phải có nghĩa vụ thanh toán cho hộ kinh doanh Đại lý thức ăn thủy sản P1 1.394.349.832 đồng.
[3.3] Về yêu cầu tính lãi suất 10% của số tiền 2.790.598.000 đồng. Xét thấy, nội dung của hợp đồng không có quy định lãi suất khi chấm dứt hợp đồng và tại bản xác nhận công nợ ngày 01/11/2022 cũng không quy định lãi suất nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn không được chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền mua vật tư nuôi tôm còn thiếu 158.960.000 đồng. Xét thấy, tại bản xác nhận công nợ ngày 07/10/2019, ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H ký tên vào bản xác nhận công nợ, phiên tòa, ông H1, bà H cũng thừa có mua vật tư để nuôi tôm từ năm 2014 đến ngày ký xác nhận công nợ còn nợ Đại lý thức ăn Phương Tú 158.960.000 đồng và đồng ý trả tiền cho
nguyên đơn nhưng không có khả năng trả. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền mua vật tư nuôi tôm còn thiếu 158.960.000 đồng theo bản xác nhận công nợ ngày 07/10/2019 là có căn cứ được chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật. Tại bản xác nhận công nợ có ghi cam kết bên B sẽ thanh toán đủ khi lên tôm, chấm dứt hợp đồng với bên A hoặc đúng thời gian theo yêu cầu của bên A nhưng đến ngày 21/10/2021, hai bên tiếp tục ký bản xác nhận công nợ số tiền là 240.960.000 đồng, trong đó có nhập số tiền 158.960.000 đồng và tiền mượn của vụ 1, vụ 2, vụ 3, tháng 10/2021. Tại Điều 2 bản xác nhận công nợ ngày 21/10/2021 có quy định thanh toán chậm nhất 01 tháng kể từ ngày xác nhận công nợ. Như vậy, từ khi ký xác nhận công nợ đến nay, ông H1, bà H không thanh toán cho bên A là vi phạm thời hạn cam kết trả nợ từ ngày 21/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm. Do đó, yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn đối với số tiền 158.960.000 đồng là có căn cứ được chấp nhận. Do các bên không quy định mức lãi nên áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tính lãi suất. Theo quy định, lãi suất được xác định là 10%/năm. Như vậy, tiền lãi suất bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn như sau: Từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sở thẩm là ngày 09/5/2024 là 18 tháng X 0,833%/tháng x 158.960.000 đồng = 23.844.000 đồng.
Tổng cộng, ông H1, bà H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Cẩm T số tiền 182.804.000 đồng.
[5] Xét yêu cầu bị đơn trả 171.000.000 đồng tiền mượn chi xài cá nhân. Nhận thấy, tại phiên tòa cũng như tại bản xác nhận công nợ bị đơn thừa nhận trong thời gian hợp tác nuôi tôm có mượn tiền của nguyên đơn để trả tiền nhân công, tiền mướn đất và đồng ý trả cho nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả 171.000.000 đồng là có căn cứ được chấp nhận. Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên. Việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh P1) yêu cầu bị đơn ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H trả toàn bộ công nợ với số tiền 3.120.558.000 đồng là không có cơ sở để chấp nhận, vì trong đó có một phần nợ chung là 2.790.598.000 đồng nên chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn với số tiền 1.748.153.832 đồng (trong đó gồm : Tiền hùn vốn nuôi tôm là 1.394.349.832 đồng; tiền mượn 171.000.000 đồng; tiền mua vật tư nuôi tôm 158.960.000 đồng; tiền lãi suất số tiền 158.960.000 đồng là 23.844.000 đồng), không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn 1.396.248.100 đồng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh P1) số tiền 1.748.153.832 đồng; không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn số tiền 1.396.248.100 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[6] Đối với việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông H1, bà H giao 03 thửa đất số 211, 214, 277, tờ bản đồ số 36 có tổng diện tích 14.800m², tọa lạc tại khóm H, thị Trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau. Nhận thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không vượt quá phạm vi khởi kiện bản đầu nên được chấp nhận.
[7] Đối với số tiền bị đơn vay của Ngân hàng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà Ngân hàng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Xét về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là số tiền 1.396.248.100 đồng và tiền lãi suất của số tiền 2.790.598.000 đồng không được chấp nhận là 418.589.700 đồng, vậy bà T phải chịu tiền án phí 66.445.134 đồng. Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền 1.748.153.832 đồng là 64.444.615 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 217, 219, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 120, 385, 430, 440, 463, 466, Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1). Buộc bị đơn ông Lê Phước H1, bà Nguyễn Mỹ H trả cho bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) số tiền 1.748.153.832 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T (hộ kinh doanh P1) buộc bị đơn ông Lê Phước H1 và bà Nguyễn Mỹ H trả cho bà số tiền 1.396.248.100 đồng và tiền lãi suất của số tiền 2.790.598.000 đồng tính từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T phải chịu án phí số tiền 66.445.134 đồng, bà Nguyễn Cẩm T đã nộp tạm ứng số tiền 47.206.000 đồng theo biên lai thu số 0019096 ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được được chuyển thu, số tiền còn lại phải nộp tiếp 19.239.134 đồng. Bị đơn ông Lê Phước H1 và bà Trần Mỹ H4 phải chịu án phí 64.444.615 đồng.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Bình |
Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng hùn vốn, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 92/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng hùn vốn, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
