|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/DS – ST Ngày: 23/4/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Đức Quang
- Ông Lâm Văn Quốc Trọng
Thư ký Tòa án: Bà Phạm Ngọc Phương- thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 514/2023/TLST_DS ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 03 năm 2024 Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn : Ông Phạm Công T – sinh năm 1955
Địa chỉ : 2 P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền : Ông Võ Đức Duy H – sinh năm 1976 (Theo giấy ủy quyền ngày 21/12/2023) ( xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Đ – sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: số D C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Phạm Công T có người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Đức Duy H trình bày:
Vào ngày 22/03/2019, ông Phạm Công T cho ông Nguyễn Huỳnh Đ vay số tiền là 2.017.230.000 đồng (hai tỷ không trăm mười bảy triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng) với lãi suất thỏa thuận trong thời gian 1 tháng, ông Đ cam kết trả lại cho ông T số tiền trên vào ngày 20/04/2019. Nhưng sau khi nhận được số tiền vay của ông T, ông Đ đã không trả lại số tiền đã vay của ông T theo thỏa thuận, sau đó ông Đ đã chặn mọi liên lạc nhằm trốn tránh việc trả lại số tiền mà ông Đ đã vay của ông T.
Ông T đã nỗ lực tìm kiếm ông Đ để yêu cầu ông Đ trả lại ông T số tiền gốc và lãi; nhưng ông Đ đã không trả lại cho ông T số tiền gốc đã vay và số tiền lãi phát sinh;
Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của ông T, ông đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên buộc ông Nguyễn Huỳnh Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông T số tiền 4.072.182.201 (bằng chữ bốn tỷ, không trăm bảy mươi hai triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, hai trăm lẻ một) đồng bao gồm 2.017.230.000 đồng (hai tỷ, không trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng) tiền nợ gốc và số tiền lãi từ ngày 22/03/2019 đến 22/04/2024 tạm tính 2.054.950.201 đồng (hai tỷ, không trăm năm mươi bốn triệu, chin trăm năm mươi nghìn hai trăm lẻ một đồng) (lãi suất 1,67%/tháng (20%/năm) x 61 tháng x 2.017.230.000 đồng =2.054.950.201 đồng) theo quy định của pháp luật.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Nguyễn Huỳnh Đ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn, đồng thời không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Võ Đức Duy H có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, tuy nhiên về phần lãi suất trong vụ án này cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và căn cứ khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 thì lãi suất được xác định là 10%/năm. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng :
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của ông Phạm Công T, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn được xác định có nơi cư trú cuối cùng tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1. 2] Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự: Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Huỳnh Đ phải có nghĩa vụ trả số tiền là 4.072.182.201 (bốn tỷ, không trăm bảy mươi hai triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, hai trăm lẻ một) đồng bao gồm 2.017.230.000 đồng (hai tỷ không trăm mười bảy triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) tiền nợ gốc và số tiền lãi từ ngày 22/03/2019 đến 22/04/2024 tạm tính 2.054.950.201 đồng (hai tỷ, không trăm năm mươi bốn triệu, chín trăm năm mươi nghìn hai trăm lẻ một đồng) (lãi suất 1,67%/tháng (20%/năm) x 61 tháng x 2.017.230.000 đồng =2.054.950.201 đồng).
[2.1] Xét yêu cầu trả tiền nợ gốc:
Xét thấy, vào ngày 22/03/2019, ông Phạm Công T cho ông Nguyễn Huỳnh Đ vay số tiền là 2.017.230.000 đồng (hai tỷ không trăm mười bảy triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng), ông Đ cam kết trả lại cho ông T số tiền trên vào ngày 20/04/2019. Ở phần cuối của Giấy mượn tiền và cam kết trả nợ ngày 22/03/2019 ông Nguyễn Huỳnh Đ có ký tên và ghi nội dung “Đã nhận số tiền như trên”.
Căn cứ nội dung Giấy mượn tiền và cam kết trả nợ ngày 22/03/2019 và nội dung xác nhận của ông Nguyễn Huỳnh Đ thì Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông Đ đã nhận số tiền gốc là 2.017.230.000 đồng từ ông Phạm Công T.
Do ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu của ông T về việc trả nợ gốc là có cơ sở; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Huỳnh Đ phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc là 2.017.230.000 đồng (hai tỷ không trăm mười bảy triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng)
[2.2] Xét yêu cầu trả tiền lãi.
Nguyên đơn có yêu cầu tính lãi kể từ ngày 22/3/2019 tới ngày xét xử sơ thẩm là 22/4/2024 theo mức lãi suất là 20%/năm trên số tiền nợ gốc là 2.054.950.201 đồng (hai tỷ không trăm năm mươi bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn hai trăm lẻ một đồng)
Xét thấy, trong nội dung Giấy mượn tiền và cam kết trả nợ ngày 22/03/2019 thì ông Đ chỉ cam kết trả nợ vào ngày 20/4/2019, còn về mức lãi suất thì không được thể hiện trong Giấy mượn tiền này. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có ý kiến cho rằng mặc dù ông Đ không ghi lãi suất vaò trong Giấy mượn tiền nhưng thực chất việc vay tiền giữa ông T và ông Đ là có lãi suất, chỉ là không ghi vào giấy mượn tiền mà thôi; Vì vậy, nguyên đơn đề nghị tính lãi suất theo mức 20%/năm. Do ông Nguyễn Huỳnh Đ không có mặt tại tòa án để làm rõ vấn đề về tiền lãi nên đây thuộc trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất. Do vậy, căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự xác định mức lãi suất dùng để làm căn cứ tính lãi là 10%/năm.
- Về thời gian trả lãi: Trong hợp đồng các bên quy định hạn cuối để trả lãi là ngày 20/4/2019. Tuy nhiên cho tới thời điểm xét xử thì ông Đ chưa thanh toán cho ông T bất kỳ khoản gốc lãi nào.
Căn cứ quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì lãi suất chậm trả trong vụ án này cũng được xác định là 10%/năm. Như vậy tổng thời gian tính lãi được xác định từ ngày 22/3/2019 đến ngày 22/4/2024 theo mức lãi suất là 10%/năm; tính ra số tiền lãi là:
05 năm 01 tháng x 2.017.230.000 đồng x 10%/năm = 1.025.425.249 đồng
(một tỷ không trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi chín đồng).
Do vậy, đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Nguyễn Huỳnh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Công T số tiền lãi là 1.025.425.249 đồng (một tỷ không trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi chín đồng). Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là: 2.054.950.201 đồng - 1.025.425.249 đồng = 1.029.524.952 đồng.
[3] Số tiền cho vay trong vụ án này ông T cam kết là tài sản riêng của ông T nên Tòa án không đưa vợ ông T vào tham gia trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[4] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Công T, buộc ông Nguyễn Huỳnh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Công T số tiền tổng cộng là : 3.042.655.249 đồng (ba tỷ không trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi chín đồng) trong đó : 2.017.230.000 đồng là tiền nợ gốc, 1.025.425.249 đồng là tiền nợ lãi.
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Huỳnh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.853.105 đồng (chín mươi hai triệu tám trăm năm năm mươi ba ngàn một trăm lẻ năm đồng).
Ông Phạm Công T không phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu về tiền lãi không được chấp nhận và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí do ông T là người cao tuổi.
[6] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Công T
- Ông Nguyễn Huỳnh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Công T số tiền là 3.042.655.249 đồng (ba tỷ không trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi chín đồng); trong đó : 2.017.230.000 đồng là tiền nợ gốc và 1.025.425.249 đồng là tiền nợ lãi theo Giấy mượn tiền và cam kết trả nợ ngày 22/3/2019.
- Việc thanh toán tiền được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ khi ông Phạm Công T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nói trên, hàng tháng ông Nguyễn Huỳnh Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Không chấp nhận phần yêu cầu về tiền lãi vượt quá quy định của ông Phạm Công T số tiền là 1.029.524.952 đồng (một tỷ không trăm hai mươi chín triệu năm trăm hai mươi bốn ngàn chín trăm năm mươi hai đồng).
- Về án phí:
- - Ông Nguyễn Huỳnh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.853.105 đồng (chín mươi hai triệu tám trăm năm năm mươi ba ngàn một trăm lẻ năm đồng).
- - Ông Phạm Công T không phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu về tiền lãi không được chấp nhận và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí do ông T là người cao tuổi.
- Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Công T, ông Nguyễn Huỳnh Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
Bản án số 92/2024/DS – ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 92/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
