Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Ông Vũ Đức Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 23/2012/HSST ngày 21/3/2012 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 54 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xoá án tích); bị tạm giữ ngày 28/11/2023, tạm giam ngày 02/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, tại khu vực ngõ B A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Công an phường Đ, quận N phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, thu giữ: 01 gói nilon kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng tại dưới đất nơi T đứng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 29T7-5461. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T, Cơ quan Công an không thu giữ được vật chứng liên đến ma tuý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Do nghiện ma tuý nên khoảng 11 giờ 15 phút ngày 28/11/2023, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jupiter BKS 29T7-5461 đến khu vực ngã tư A, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Tại đây, có một người đàn ông đến gần T và hỏi “Lấy đồ không thì đi theo anh?”. T hiểu ý người đàn ông trên là có mua ma túy không. T đồng ý và điều khiển xe mô tô đi theo xe của người đàn ông trên đến đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Người đàn ông dẫn T vào một ngõ trên đường A. Tại đây, T đưa cho người đàn ông 200.000 đồng và nhận 01 gói nilon kích thước khoảng 1,5 x 1,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine từ người đàn ông. T cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến ngõ B A thì bị Công an phường Đ bắt quả tang. Lúc này, T vứt gói ma túy vừa mua xuống đường. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng và dẫn giải T về trụ sở làm việc.

Tại bản Kết luận giám định số 976/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận đối với chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,13 gam, là loại Heroine.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 29T7-5461 là xe Thanh mượn của anh Bùi Văn T1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào sáng ngày 28/11/2023 để đi làm. Anh T1 không biết việc T sử dụng xe mô tô để đi mua ma tuý về tự sử dụng. Cơ quan điều tra xác minh chủ xe là Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tập thể BV198-BCA, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. Chị C đã bán chiếc xe này từ lâu cho một người đàn ông ở Hải Phòng (không nhớ tên, địa chỉ). Anh T1 khai khi mua xe của chị C có làm giấy tờ mua bán xe, nhận giấy đăng ký xe từ chị C nhưng hiện nay anh T1 chưa xuất trình được giấy mua bán xe và giấy đăng ký xe mô tô trên. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên nên Cơ quan Công an quận N đã ra quyết định tách vật chứng là 01 xe mô tô Yamaha Jupiter BKS 29T7-5461 để tiếp tục xác minh làm rõ sau.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKSNQ ngày 12/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,05 gam ma túy heroin và vỏ bao gói còn lại sau giám định.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố, tỏ ra ăn năn hối hận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, tại khu vực ngõ B A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,13 gam ma túy, là loại heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường Đ, quận N bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  1. Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroine có khối lượng 0,13 gam; bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân bị cáo có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  2. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
  3. Về xử lý vật chứng: Heroine là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/11/2023.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 976MT/PC09 chứa 0,05 gam ma túy heroin và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/3/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo bản án:
  • Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị MãoBùi Duy Khoa
Vũ Đức Dũng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T tt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger