TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 17/6/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Duyên
2. Ông Lưu Danh Thuỳ
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và điểm cầu thành phần: Phòng hỏi cung số 1 Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/8/1985 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Lê Văn Đ - sinh năm 1950; Con bà: Nông Thị R - sinh năm 1950; Cùng trú tại: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Hoàng Thị H (đã chết); Con: Chưa có; A, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 08 anh chị em;
Tiền án: Ngày 13/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Ngày 10/6/2014 bị Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân:
Ngày 08/4/2009 bị Ủy ban nhân dân tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Ngày 08/12/2011 bị Ủy ban nhân dân tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Ngày 05/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 25/01/2024 đến nay; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Nông Đình T - sinh năm 2004; Địa chỉ: Xóm M, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Nông Văn T1 - sinh năm 1969; Địa chỉ: Xóm M, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ ngày 25/01/2024 tại khu vực tổ H, phường S, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Lê Văn B (sinh ngày 29/8/1985; Trú tại: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Bản khai nhận là H1) do Bản tự giác giao nộp từ trong túi quần đằng trước bên trái Bản đang mặc;
- + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, số IMEI1: 358554566392506; IMEI2: 358554566392514, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
- + 01 (một) xe mô tô màu đen, nhãn hiệu HONDA BLADE, biển kiểm soát 11H1-15691.
Hồi 11 giờ 50 phút ngày 25/01/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn B, kết quả: Tang vật quả tang có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam).
Ngày 25/01/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 138 đối với vật chứng vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 136 ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 25/01/2024 Lê Văn B mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE màu đen, biển kiểm soát 11H1-156.91 của Lê Nông Đình T (sinh ngày 15/3/2004; Trú tại: xóm M, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đi từ nơi Bản và T đang làm việc tại phường N, thành phố C đến khu vực bờ sông gần cầu B thuộc phường S, thành phố C tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Bản gặp 01 (một) người đàn ông không quen biết dáng giống người nghiện nên hỏi mua Heroine. Người này đồng ý, B đưa cho người đàn ông số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người này nhận tiền và đưa cho Bản 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được H1, B cho vào túi quần đằng trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực tổ H, phường S, thành phố C tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.
Hành vi của bị cáo Lê Văn B đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc mô tô biển kiểm soát 11H1 - 156.91, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là Nông Văn T1 (sinh ngày 24/10/1969; Trú tại: xóm M, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) là bố đẻ của Lê Nông Đình T. Ngày 25/01/2024, T1 cho T mượn xe mô tô để làm phương tiện đi lại phục vụ công việc, cả hai không biết việc B sử dụng xe mô tô để làm phương tiện đi mua ma túy. Do vậy, ngày 06/3/2024, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho Lê Nông Đình T theo giấy ủy quyền của Nông Văn T1.
Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKSTP ngày 08/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với Kết luận giám định số 136 ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C và khối lượng ma túy bị thu giữ.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi liên quan vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 18 đến 21 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong ma tuý; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu xanh.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 10 giờ ngày 25/01/2024 tại khu vực tổ H, phường S, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Lê Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Lê Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự chưa được xoá, là người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về hình phạt chính:
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho những người có ý định phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy bị thu giữ là đồ vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- - Chiếc điện thoại di động N không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo Lê Văn B khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 25/01/2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “SỐ 136/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Lê Văn B, tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Văn B: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng) IMEI 1: 358554566392506, số IMEI 2: 358554566392514, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
Vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 106 ngày 09/5/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lư và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. - Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma túy
