|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
- Ông Trần Đăng Thanh.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 231/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996; trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Vũ Văn B, sinh năm 1986; trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16-5-2024, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 24/12/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống, nhất là trong vấn đề kinh tế. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không liên lạc, hỏi thăm gì nhau, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị và anh B không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
* Tại Bản tự khai, bị đơn anh Vũ Văn B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị L vào ngày 24/12/2018. Anh và chị L kết hôn tự nguyện và cũng đã có thời gian tìm hiểu, có đến UBND xã T để đăng ký kết hôn cùng nhau. Quá trình chung sống đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về cuộc sống vợ chồng. Từ tháng 02/2023 thì ly thân, không cón sống chung cùng nhau. Nay chị L làm đơn xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Vũ Văn B vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tóm tắt nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Vũ Văn B.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0006200 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị L có đơn xin ly hôn với anh Vũ Văn B. Bị đơn anh Vũ Văn B cư trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Vũ Văn B vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt chị L, anh B
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L kết hôn với anh Vũ Văn B trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 12 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Văn B là hợp pháp. Thro lời khai của chị L, anh B thì xác định trong quá trình chung sống giữa chị L, anh B có nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị L, anh B không còn sống chung, đã ly thân từ tháng 02 năm 2023. Quá trình giải quyết vụ án, chị L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh B. Bị đơn anh Vũ Văn B cũng đồng ý ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Văn B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Vũ Văn B.
[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Văn B đều xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147- Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Vũ Văn B.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006200 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L, bị đơn là anh Vũ Văn B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 231/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
