Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 92/2024/HS-PT

Ngày 11 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm.

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2024/TLPT-HS ngày 09/7/2024 đối với các bị cáo Tạ Phương Đ, Cù Minh V, Bùi Thái D do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Tạ Phương Đ, sinh ngày 28/4/2003 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Phương N và con bà Bùi Thị Kim H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 28/02/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 17/2023/HSST; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q và có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Cù Minh V, sinh ngày 29/4/2006 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Minh T và con bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/3/2023 đến nay; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Bùi Thái D, sinh ngày 30/9/2006 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T2 và con bà Trương Thị Kim A; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/3/2023 đến nay; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thái D: Ông Bùi Xuân T2, sinh năm 1977 và bà Trương Thị Kim A, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (là cha, mẹ đẻ của bị cáo D); có mặt tại phiên tòa.

  • - Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Bùi Thái D: Ông Trần Trung H1 là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
  • - Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Bùi Thái D: Luật sư Bùi Minh K và Luật sư Trần Văn D1 – Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Biệt thự E-Lô A - Khu Đô thị M, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Luật sư K có mặt tại phiên tòa; Luật sư D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Cù Minh V: Ông Hà Thanh Đ1 là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, Tạ Phương Đ cùng Tạ Đình T3, Cù Minh V, Bùi Thái D và đối tượng Nguyễn Hữu Ý đi nhậu về ngủ tại phòng trọ số C L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Tại phòng trọ, Cù Minh V có nhắn tin qua mạng facebook với Võ Thị Thu H2 với nội dung tục tĩu. Lúc này, Võ Thị Thu H2 đang ngồi tại quán cá viên chiên vỉa hè trên đường P giao nhau với đường T thuộc tổ C, phường N, TP Q, tỉnh Quảng Ngãi cùng với Võ Đoan T4, Nguyễn Thanh H3 cùng 02 (hai) người thanh niên (Không xác định nhân thân lai lịch, trong đó có một người tên B) nên Võ Thị Thu H2 đưa điện thoại cho B xem, Bắc soạn và gửi tin nhắn thoại có lời chửi tục lại cho Cù Minh V. Một lúc sau, B cùng với người bạn nam bỏ đi. Lúc này, Võ Thị Thu H2, Võ Đoan T4 và Nguyễn Thanh H3 qua ngồi chung bàn với Nguyễn Huỳnh Thanh N1 cùng chị Phạm Thị Thúy K1.

Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, Cù Minh V rủ Tạ Phương Đ, Bùi Thái D, Tạ Đình T3 và Nguyễn Hữu Ý đến quán cá viên chiên đánh người thanh niên dùng máy của Võ Thị Thu H2 nhắn tin với mình thì tất cả đều đồng ý. Trước khi đi, Tạ Phương Đ cầm máy lửa gas mô hình khẩu súng bằng kim loại, Nguyễn Hữu Ý cầm 01 (một) con dao dài 23cm, lưỡi bằng kim loại dài 17cm, cán bằng gỗ dài 6cm và Tạ Đình T3 cầm 01 (một) chai thủy tinh. Khi đi, Cù Minh V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 76E1-471.46 chở Tạ Phương Đ ngồi giữa, Bùi Thái D ngồi sau; Tạ Đình T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 76C- 632.95 chở Nguyễn Hữu Ý ngồi sau cầm theo 01 (một) con dao đi đến quán cá viên chiên.

Khi đến, Cù Minh V đi tới bàn của anh N1 đang ngồi ăn cá viên chiên, V dùng chân đạp vào người anh N1, tiếp đó Đ, T3 và D cùng xông vào dùng tay, chân đánh, đạp nhiều cái vào người anh N1, còn Ý cầm dao trên tay và đứng gần nhưng không tham gia đánh N1. Sau đó, Đ dùng máy lửa gas mô hình khẩu súng bằng kim loại đánh nhiều cái vào đầu và vùng trán N1. Lúc này, Võ Thị Thu H2 và Võ Đoan T4 có can ngăn nói là đánh nhầm người rồi, thì Tạ Phương Đ dùng máy lửa gas mô hình khẩu súng bằng kim loại chĩa vào đầu của chị T4 đe dọa và yêu cầu Võ Đoan T4 lui ra nếu không ra sẽ bắn nên Võ Thị Thu H2 và Võ Đoan T4 nghĩ là súng thật, sợ bị bắn nên không dám can ngăn nữa. Sau khi đánh anh N1, Tạ Phương Đ, Cù Minh V, Tạ Đình T3, Bùi Thái D và Nguyễn Hữu Ý bỏ đi. Anh N1 được đưa đến Bệnh viện P điều trị thương tích.

Ngày 27/12/2022, anh N1 có đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 21/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với anh Nguyễn Huỳnh Thanh N1, kết luận:

+ Vỡ lún xoang trán phải: 09%.
+ 01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2) cm: 2,73%.
+ 01 sẹo đỉnh đầu phải kích thước (1 x 0,3) cm: 0,88%.
Tổng tỷ lệ: 12,61%. Làm tròn số = 13%.
+ Các tổn thương phù hợp vật tày gây thương tích.

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 13%.

- Tại Bản Kết luận giám định số: 26/KL-KTHS ngày 20/01/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ. Đây là máy lửa gas mô hình khẩu súng ngắn CZ83, tuy nhiên bộ phận dẫn khí gas từ bình chứa gas ở bên trong tay cầm ra đầu nòng súng không có nên không sử dụng để bật lửa được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi;

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Phương Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và phạm tội “Đe dọa giết người”.

Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Đình T3, Cù Minh V và Bùi Thái D phạm tội “Cố ý gây thương tích".

  1. Áp dụng vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Tạ Phương Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  2. Áp dụng vào điểm d khoản 2 Điều 133; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Tạ Phương Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo Tạ Phương Đ phải chấp hành hình phạt tù chung là 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2023.
  4. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 17/2023/HSST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Buộc bị cáo Tạ Phương Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2023.
  5. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Cù Minh V 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
  6. Áp dụng vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Bùi Thái D 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên Tạ Đình T3 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/6/2024, bị cáo Tạ Phương Đ kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 10/6/2024, bị cáo Cù Minh V kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Đồng thời, bị cáo V giao nộp tình tiết giảm nhẹ mới, gồm: Đơn xác nhận có ông ngoại là Nguyễn Đắc T5 được hưởng chính sách như thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Giấy báo trúng tuyển và nhập học của Trường Cao đẳng T6.

Ngày 05/6/2024, bị cáo Bùi Thái D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và giao nộp bổ sung đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo của gia đình người bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tạ Phương Đ rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
  • - Xét kháng cáo của các bị cáo:

Đối với bị cáo Cù Minh V cung cấp thêm đơn xác nhận có ông ngoại là Nguyễn Đắc T5 được hưởng chính sách như thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Giấy báo trúng tuyển và nhập học của Trường Cao đẳng T6. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người khởi xướng với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, trong đó; có bị cáo Bùi Thái D và cháu Nguyễn Hữu Ý là người chưa đủ 18 tuổi; các tài liệu bị cáo mới cung cấp cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò, cân nhắc về nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp, không nặng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Bùi Thái D có cung cấp đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo của gia đình người bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo D; đối với phiếu thu tiền hỗ trợ mua đồ dùng học tập cho các cháu nuôi tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Q chỉ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò, cân nhắc về nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp, không nặng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

- Luật cứ của ông Trần Trung H1 bào chữa cho bị cáo Bùi Thái D:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Thái D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo D chưa thành niên, phạm tội lần đầu, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, được bị hại có đơn xin miễn hình phạt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo D 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù là quá nghiêm khắc. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D mức án 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

- Luật cứ của Luật sư Bùi Minh K bào chữa cho bị cáo Bùi Thái D:

Đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét tình tiết có tính chất côn đồ đối với hành vi của bị cáo Bùi Thái D, vì bị cáo không phải là người trực tiếp gây ra thương tích 13% cho người bị hại mà do bị cáo Tạ Phương Đ gây ra, nên người thực hành và thực hiện hành vi côn đồ là bị cáo Đ, còn bị cáo D chỉ là đồng phạm giúp sức nên hành vi của bị cáo D không mang tính chất côn đồ. Ngoài ra, đề nghị xem xét Kết luận giám định số 21/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Q, vì khoản 2 Điều 3 Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định “Mỗi bộ phận cơ thể bị tổn thương chỉ được tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể một lần. Trường hợp bộ phận này bị tổn thương nhưng gây biến chứng, di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định thì tính thêm tỷ lệ % tổn thương cơ thể do biến chứng, di chứng tổn thương ở bộ phận thứ hai”; anh N1 bị thương tích ở vùng trán và 01 sẹo ở đầu, theo kết luận giám định thì “thương tích vỡ lún xoang ở vùng trán phải là 09%, 01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm là 2,73%, 01 sẹo đỉnh đầu phải kích thước (1 x 0,3)cm là 0,88%, tổng tỷ lệ 12,61%, làm tròn 13%”, cần làm rõ thương tích ở vùng trán có được cộng chung với “thương tích vỡ lún xoang ở vùng trán phải 09%" thành tỷ lệ thương tích chung 09% hay không. Mặt khác, 01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm và 01 sẹo đỉnh đầu phải kích thước (1 x 0,3)cm đều là vết sẹo nhỏ nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể có sự chênh lệch với nhau (2,73% chênh lệch với 0,88%) là chưa phù hợp, từ đó dẫn đến độ chính xác thương tích của người bị hại như kết luận giám định nêu trên là chưa đúng. Đồng thời, đề nghị làm rõ thu thập thêm nội dung tin nhắn thoại của đối tượng tên B. Từ những dẫn chứng trên thì thấy Bản án sơ thẩm và đề nghị của Viện kiểm sát về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Thái D là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

- Luật cứ của ông Hà Thanh Đ1 bào chữa cho bị cáo Cù Minh V:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Cù Minh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Cù Minh V cung cấp thêm đơn xác nhận có ông ngoại là Nguyễn Đắc T5 được hưởng chính sách như thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Giấy báo trúng tuyển và nhập học của Trường Cao đẳng T6, nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo V theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” là không đúng, vì bị cáo không rủ rê, xúi giục, ép buộc, lôi kéo bị cáo D và cháu Nguyễn Hữu Ý thực hiện hành vi phạm tội mà bị cáo D và cháu Ý tự nguyện cùng đi đánh nhau.

Xét thấy, bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục đi học, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V mức án 12 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi của các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thái D, Cù Minh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, bị cáo Cù Minh V sau khi đi nhậu cùng Tạ Phương Đ, Tạ Đình T3, Bùi Thái D về ngủ tại phòng trọ thì Cù Minh V có nhắn tin qua mạng facebook với Võ Thị Thu H2 với nội dung tục tĩu, Võ Thị Thu H2 đưa điện thoại cho một người tên B (không xác định nhân thân lai lịch) xem, Bắc soạn và gửi tin nhắn thoại có lời chửi tục lại cho bị cáo Cù Minh V. Vào khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Cù Minh V rủ các bị cáo: Tạ Phương Đ, Tạ Đình T3, Bùi Thái D và cháu Nguyễn Hữu Ý đi đánh người tên B thì tất cả đều đồng ý. Khi đến nơi, bị cáo Cù Minh V nhìn thấy anh Nguyễn Huỳnh Thanh N1 đang ngồi ăn cá viên chiên cùng Võ Thị Thu H2, Võ Đoan T4, Nguyễn Thanh H3, Phạm Thị Thúy K1. Bị cáo Cù Minh V nghĩ anh Nghĩa là người thanh niên đã nhắn tin với mình nên bị cáo Cù Minh V vào dùng chân đạp vào người anh N1. Sau đó, các bị cáo: Tạ Phương Đ, Tạ Đình T3, Bùi Thái D dùng tay, chân đánh vào người anh N1, riêng Tạ phương Đ còn dùng máy lửa gas mô hình khẩu súng ngắn súng đánh vào đầu và trán anh Nguyễn Huỳnh Thanh N1 gây thương tích với tỷ lệ thương tích là 13%.

Khi thấy anh N1 bị đánh, chị Võ Đoan T4 (người dưới 16 tuổi) vào can ngăn thì bị cáo Tạ Phương Đ có hành vi dùng máy lửa gas mô hình khẩu súng ngắn chĩa vào đầu của chị T4 đe dọa và yêu cầu chị T4 lui ra nếu không ra sẽ bắn, làm chị Võ Đoan T4 sợ bị bắn nên không dám can ngăn nữa.

Hành vi của các bị cáo như nêu trên mang tính chất côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh N1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tạ Phương Đ về tội “Đe dọa giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xét xử các bị cáo: Tạ Đình T3, Cù Minh V và Bùi Thái D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D, thấy rằng: Các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D đều là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, khi đến gặp anh N1 thì các bị cáo không biết anh Nghĩa là ai, không cần hỏi thăm để biết anh N1 có phải là người mà các bị cáo cần tìm để đánh hay không nhưng các bị cáo đã xông đến dùng tay, chân, hung khí đánh vào người anh N1. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự hung hãn, mang tính chất côn đồ, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Đối với bị cáo Cù Minh V có cung cấp thêm đơn xác nhận có ông ngoại là Nguyễn Đắc T5 được hưởng chính sách như thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Giấy báo trúng tuyển và nhập học của Trường Cao đẳng T6. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo mang tính chất côn đồ, bị cáo là người khởi xướng rủ các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, trong đó; có bị cáo Bùi Thái D và cháu Nguyễn Hữu Ý là người chưa đủ 18 tuổi; các tài liệu bị cáo mới cung cấp cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo.

Đối với bị cáo Bùi Thái D có cung cấp đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo của gia đình người bị hại và phiếu thu tiền hỗ trợ mua đồ dùng học tập cho các cháu nuôi tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Q, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo D.

Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo, cân nhắc về nhân thân; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, xử phạt bị cáo Cù Minh V 01 năm 10 tháng tù và bị cáo Bùi Thái D 01 năm 08 tháng tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét ý kiến bào chữa của Luật sư Bùi Minh K:

[4.1] Đối với Kết luận giám định số 21/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Q:

Về đề nghị xem xét lại cách tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Kết luận giám định số 21/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Q, vì cho rằng “thương tích vỡ lún xoang ở vùng trán phải là 09% và 01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 2,73%, là cùng một bộ phận cơ thể bị tổn thương nên chỉ được tính tỷ lệ tổn thương cơ thể một lần chứ không được tính riêng như Kết luận giám định và nghị ngờ kết luận giám định chưa đúng. Căn cứ vào hồ sơ bệnh án của Bệnh viện P, Kết luận giám định số 21/TgT ngày 18/01/2023 và bản ảnh giám định pháp y về thương tích của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, thì thấy rằng: Anh N1 bị tổn thương cơ thể ở “thương tích vỡ lún xoang ở vùng trán phải” là phần cứng (phần xương), còn “01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm” là phần mềm nên hai vết thương này tạo nên hai tổn thương trên cơ thể anh N1 được quy định tính tỷ lệ tổn thương tại Chương 8 và C 12 Thông tư số: 22/2019/TT-BYT của Bộ Y, không phải một tổn thương nên lời bào chữa của Luật sư K là không có cơ sở chấp nhận.

Về đề nghị xem xét 01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm và 01 sẹo đỉnh đầu phải kích thước (1 x 0,3)cm đều là vết sẹo nhỏ nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể có sự chênh lệch với nhau (2,73% chênh lệch với 0,88%), thấy rằng: Mặc dù, hai vết sẹo trên đều là sẹo nhỏ nhưng theo quy định tại mục 2 Chương 8 Thông tư số: 22/2019/TT-BYT của Bộ Y quy định: Nguyên tắc quy định về tỷ lệ % TTCT của sẹo theo vùng cơ thể thì vết sẹo vùng trán (vùng mặt) bằng tỷ lệ % TTCT của sẹo vết thương phần mềm nhân hệ số 3 (ba). Do đó, Kết luận giám định số 21/TgT kết luận: “01 sẹo trán phải kích thước (2,5 x 0,2)cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 2,73% và 01 sẹo đỉnh đầu phải kích thước (1 x 0,3)cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 0,88%” là phù hợp, nên lời bào chữa của Luật sư K là không có cơ sở chấp nhận.

[4.2] Đối với tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ: Bản án phúc thẩm đã nhận định tại mục [2] nên không chấp nhận đề nghị của Luật sư Bùi Minh K.

[4.3] Đối với đề nghị thu thập bổ sung nội dung tin nhắn, đàm thoại của người có tên “Bắc” để làm sang tỏ tình tiết liên quan đến vụ án là không cần thiết cho việc giải quyết vụ án nên không chấp nhận.

Do đó, Luật sư Bùi Minh K đề nghị căn cứ Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.

[5] Xét đề nghị của ông Trần Trung H1 và ông Hà Thanh Đ1 không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tạ Phương Đ rút toàn bộ nội dung kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tạ Phương Đ. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Tạ Phương Đ.

[7] Về án phí:

  • [7.1] Các bị cáo Cù Minh V, Bùi Thái D, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
  • [7.2] Bị cáo Tạ Phương Đ rút toàn bộ kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào các Điều 342, 348 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Tạ Phương Đ.
    2. Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên xử đối với bị cáo Tạ Phương Đ có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Cù Minh V và Bùi Thái D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

    1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Cù Minh V 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

    2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

      Xử phạt: Bị cáo Bùi Thái D 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

  3. Về án phí:
    1. Các bị cáo Cù Minh V và Bùi Thái D, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
    2. Bị cáo Tạ Phương Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND, TAND TP. Quảng Ngãi;
  • - Công an TP. Quảng Ngãi;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Quảng Ngãi;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về vụ án hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích và đe dọa giết người)

  • Số bản án: 92/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích và Đe dọa giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger