TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng
Ông Nguyễn Quốc Khánh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Thu N, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1998 tại tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn P và bà Phạm Thị Thu T; có chồng là Huỳnh Tấn L và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
- Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1997 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh P1 và bà Nguyễn Thị N1; có chồng là Trương Phi H và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/11/2023 và bị tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.
Bị cáo bị bắt ngày 24/11/2023 và bị tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.
* Các bị hại:
- - Chị Phạm Thị Lệ Q, sinh năm: 1991; địa chỉ: C T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm: 1995; địa chỉ: 1 Đ, phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- - Anh Cao Hoài N2, sinh năm: 1993; địa chỉ: 2307, Block D, Chung Cư T, Tạ Quang B, phường D, quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- - Anh Ngô Minh S, sinh năm: 2000; địa chỉ: B, tổ B, ấp B, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- - Anh Lê Xuân H2, sinh năm: 1998; sinh năm: 255 N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- - Chị Lê Thị H3, sinh năm: 1995; địa chỉ: C L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- - Anh Lê Văn H4, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn H5, sinh năm: 1971; địa chỉ: Thôn T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1989; địa chỉ: Khu T, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- - Chị Bùi Thị H6, sinh năm: 1985; địa chỉ: 7 N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- - Chị Vũ Thu T3, sinh năm: 1988; địa chỉ: TDP L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- - Anh Huỳnh Phú C, sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- - Anh Đinh Văn B1, sinh năm: 1986; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- - Anh Huỳnh Văn T4, sinh năm: 1969; địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- - Anh Phạm Văn T5, sinh năm: 1989; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Thanh N3, sinh năm: 1998; địa chỉ: Làng T, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- - Anh Phạm Thanh T6, sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ B, KP C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Huỳnh Ngọc H7; sinh năm: 2000; địa chỉ: 2 KP H, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Chí N4, sinh năm: 1993; địa chỉ: Ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm: 1994; địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- - Anh Trương Phi H, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào cuối năm 2022, Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1 quen biết nhau khi cùng làm việc tại một văn phòng tại thành phố T, tỉnh Phú Yên, do một người tên Vũ V (ở tỉnh Đăk Lăk, không biết địa chỉ cụ thể) làm chủ. Tại đây, N và T1 làm công việc gọi điện cho người có thẻ tín dụng ngân hàng, mạo danh nhân viên ngân hàng để tư vấn các dịch vụ thẻ tín dụng rồi yêu cầu cung cấp các thông tin của thẻ tín dụng và mã OTP nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản thẻ tín dụng của khách hàng. Trong quá trình làm việc tại văn phòng của Vũ V thì N, T1 không lừa đảo chiếm đoạt được tiền của người nào. Văn phòng này hoạt động được khoảng một tháng thì đóng cửa.
Sau Tết Nguyên Đán năm 2023, N thấy một bài đăng tuyển nhân viên “Tele Sales” (tư vấn qua điện thoại) trên trang Facebook, biết loại hình công việc này giống với Văn phòng Vũ V nên N đã liên hệ xin việc và được nhận làm với mức lương 4.500.000đ/tháng + hoa hồng 4% số tiền chiếm đoạt được. Bắt đầu công việc thì N sử dụng tài khoản Zalo tên “Vân Vân” (đăng ký bằng số điện thoại 0963.681.xxx) kết bạn với tài khoản Zalo tên “Minh H8” (đăng ký bằng số điện thoại 0344.621.xxx) và tham gia vào nhóm Z (không nhớ tên) do “H8” quản lý. N bắt đầu được nhận “data” (dữ liệu thông tin của người có thẻ tín dụng) từ “H8” và được “H8” hướng dẫn cách thức làm việc. Do làm việc không có kết quả nên đến đầu tháng 3/2023, N gọi điện cho T1 để hỏi về kinh nghiệm và xin “data” của T1 (do N biết T1 còn lưu giữ một số “data” của Văn phòng Vũ V). Lúc này, vì không có việc làm nên T1 muốn xin cùng làm với N. Sau khi N báo với “H8” thì được “H8” đồng ý cho T1 cùng làm và thoả thuận mức lương, hoa hồng giống như N.
Từ tháng 3/2023, đến giữa tháng 4/2023, N và T1 sử dụng “data” do “H8” cung cấp để gọi điện cho khách hàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không hiệu quả nên chuyển sang sử dụng “data” của T1. Công việc của N và T1 khi làm việc cho “H8” như sau:
Với Nguyễn Thị Thu N: N gọi điện cho người có thẻ tín dụng, tự xưng là nhân viên ngân hàng, lấy lý do huỷ phí bảo an và hoàn tiền phí bảo an năm đầu tiên để tiếp cận. Khi khách hàng đồng ý thì N yêu cầu cung cấp các thông tin thẻ tín dụng, bao gồm: 16 số nổi in trên thẻ, ngày hết hạn thẻ và số CVV. Về sau, khi có kinh nghiệm thì N chỉ yêu cầu khách đọc 08 số nổi sau cùng và màu thẻ, từ đó N có thể xác định được đầy đủ các thông tin khác của thẻ tín dụng.
Với Trần Thị Thanh T1: T1 gọi điện cho người có thẻ tín dụng và tự xưng là nhân viên ngân hàng, tư vấn hỗ trợ chuyển đổi tiền trong thẻ tín dụng thành tiền mặt với lãi suất thấp, nâng hạn mức thẻ tín dụng hoặc thu phí thường niên của thẻ tín dụng nhằm thu thập thông tin của thẻ tín dụng. Khi có thông tin thẻ tín dụng thì T1 gửi thông tin cho N (qua gọi điện thoại hoặc M,...).
Sau khi có thông tin thẻ tín dụng, N và T1 tự xác định hạn mức thẻ, dự đoán số tiền có thể chiếm đoạt. Sau đó, N nhắn tin cho “H8” để “H8” gửi đường links thanh toán cho N. “H8” sẽ gửi một đường links dẫn đến một yêu cầu thanh toán trực tuyến. N có nhiệm vụ nhập các thông tin thẻ tín dụng lên các trường thông tin tương ứng của yêu cầu thanh toán và nhấn kích hoạt thanh toán. Lúc này, một mã OTP sẽ được Ngân hàng gửi về cho chủ thẻ tín dụng để xác thực thanh toán. N và T1 sẽ tiếp tục đưa ra thông tin gian dối để yêu cầu chủ thẻ cung cấp mã OTP. Sau khi nhập mã OTP thì trên links sẽ báo thành công hoặc thất bại (vì lý do số dư trong thẻ không đủ để thanh toán, thẻ chưa được kích hoạt,...). Nếu thất bại thì N, T1 sẽ liên hệ lại với chủ thẻ, lấy lý do là mình nhập nhầm và yêu cầu chủ thẻ cung cấp các thông tin Ngân hàng thông báo giao dịch thất bại (trong đó có hạn mức tiền còn lại trong thẻ tín dụng). Sau đó, N tiếp tục thông báo cho “H8” để “H8” gửi links khác và thực hiện tương tự để chiếm đoạt tiền trong thẻ tín dụng. Việc nhập thông tin thẻ tín dụng vào links, mã OTP vào yêu cầu thành toán chỉ có N thực hiện, T1 chỉ thu thập thông tin người có thẻ tín dụng, mã OTP và thông báo lại cho N. Tiền chiếm đoạt được gửi về tài khoản của “H8”, sau đó “H8” chuyển tiền hoa hồng vào tài khoản ngân hàng của N. Từ đó, N chia hoa hồng cho T1.
Về sau, vì “data” của “H8” gửi không hiệu quả, nên N đã lên mạng Internet để tìm hỏi mua “data”. Khoảng tháng 4/2023, N quen biết với Huỳnh Ngọc H7 (sinh năm: 2000; trú tại: Tổ G, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương). N sử dụng tài khoản Zalo tên “Vân Vân” kết bạn với tài khoản Zalo tên “Hiển H9” (đăng ký bằng số điện thoại 0877.494.xxx). N giới thiệu với H7 mình là nhân viên ngân hàng, cần mua “data” để phát triển khách hàng. Lúc này, H7 bán cho N file Excel chứa 1000 "data" của ngân hàng V1 với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). N và T1 đã sử dụng “data” này để gọi điện nhưng không hiệu quả nên N đã xoá file này.
Từ đầu tháng 6/2023, “H8” yêu cầu N tự tìm kiếm “data” để gọi điện và thoả thuận nâng mức thưởng lên (chiếm đoạt được từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng thì thưởng 2.000.000 đồng + hoa hồng 4% số tiền; từ 60.000.000 đồng trở lên thì thưởng 4.000.000 đồng + hoa hồng 4% số tiền). Thấy vậy, N tiếp tục liên hệ với H7 để mua “data”. Vì không có “data” để bán cho N nên H7 đã truy cập vàp các hội, nhóm trên mạng xã hội Facebook để tìm mua “data” bán lại cho N (H7 mua với giá trung bình 3.000 đồng/ 01 “data” và bán lại cho N với giá trung bình 5.000 đồng/ 01 “data”). Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6/2023 đến ngày 24/7/2023, N đã nhiều lần chuyển tổng cộng số tiền 27.800.000 đồng cho H7 để mua nhiều file Excel chứa “data” của nhiều ngân hàng khác nhau (V1, V2, T9,...).
Từ tháng 6/2023, theo hướng dẫn của “H8”, N truy cập vào cửa hàng “Shopthecaovtmn” của Nguyễn Chí N4 (sinh năm: 1993; trú tại: Ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang) trên sàn thương mại điện tử S1, thử dùng thẻ tín dụng của mình để mua thẻ cào. Sau khi đặt mua thành công thẻ cào thì N lên mạng xã hội Facebook rao bán lại với giá tiền thấp hơn (thẻ cào trị giá 1.000.000 đồng thì bán lại được số tiền 840.000 đồng). Sau khi biết được cách thức chiếm đoạt được tiền trong thẻ tín dụng thì N đã nhiều lần sử dụng thẻ tín dụng của người khác để mua thẻ cào tại cửa hàng của N4.
Khoảng ngày 05/6/2023, Nguyễn Chí N4 lập các sản phẩm “Thẻ nạp M” (nộp tiền vào ví điện tử M), “Thẻ Viettel -VTMN” (nộp tiền vào ví điện tử V3). Các sản phẩm này đều được niêm yết giá 1.000.000 đồng (khi người mua trả số tiền 1.100.000 đồng thì sẽ nhận được số tiền 1.000.000 đồng về ví điện tử). Vì mua các sản phẩm nộp tiền vào ví điện tử thì không cần phải rao bán lại như thẻ cào nên từ ngày 06/6/2023 đến ngày 20/6/2023, N đã nhiều lần sử dụng thông tin thẻ tín dụng của những người mà N và T1 lừa đảo được để thanh toán đơn hàng mua sản phẩm “Thẻ nạp Momo” và được N4 chuyển về ví Momo của N (đăng ký bằng số điện thoại 0338.662.xxx) tổng cộng số tiền 73.000.000 đồng (Bảy mươi ba triệu đồng). Khi đạt hạn mức giao dịch (30.000.000 đồng/ngày) thì N4 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng M3 (tên Nguyễn Thị Thu N) tổng cộng số tiền 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng) và chuyển vào tài khoản ngân hàng V4 số 1024822225 (tên Nguyễn Thị Thu N) tổng cộng số tiền 21.840.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Từ ngày 15/6/2023, N4 yêu cầu N mua sản phẩm “Thẻ Viettel –VTMN” (nộp tiền vào ví điện tử Viettel M1) để không bị giới hạn hạn mức và tránh khiếu nại khi giao dịch thất bại. N đã sử dụng số điện thoại 0702.509.xxx để đăng ký tài khoản V3. Từ ngày 23/6/2023 đến ngày 24/7/2023, N đã nhiều lần sử dụng thông tin thẻ tín dụng của những người mà N và T1 lừa đảo được để thanh toán đơn hàng mua sản phẩm “Thẻ Viettel - VTMN” và được N4 chuyển về ví Vietel Money của N tổng cộng số tiền 560.750.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình giao dịch với N4, N giới thiệu mình là nhân viên ngân hàng, làm dịch vụ rút tiền trong thẻ tín dụng cho khách hàng nên N4 không nghi ngờ gì.
Với thủ đoạn như trên, từ tháng 6/2023 đến ngày 25/7/2023, N và T1 đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với nhiều cá nhân trên địa bàn toàn quốc. Qua tài liệu thu thập được, N đã thừa nhận và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu được là N đã trực tiếp thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại tổng cộng số tiền 178.730.000 đồng, cụ thể:
- - Ngày 05/6/2023, N trực tiếp gọi điện và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 18.620.000 đồng của chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm: 1989; trú tại: Khu T, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội).
- - Ngày 30/6/2023, N trực tiếp gọi điện và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 49.280.000 đồng của chị Bùi Thị H6 (sinh năm: 1995; trú tại: Số G Ngõ I N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội)
- - Từ ngày 07/7/2023 đến ngày 10/7/2023, N trực tiếp gọi điện và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 79.470.000 đồng của chị Phạm Thị Lệ Q (sinh năm: 1991; trú tại: C T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai).
- - Ngày 24/7/2023, N trực tiếp gọi điện và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 14.560.000 đồng của anh Lê Xuân H2 (sinh năm: 1998; trú tại: B N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng).
- - Ngày 24/7/2023, N trực tiếp gọi điện và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 16.800.000 đồng của anh Cao Hoài N2 (sinh năm: 1993; trú tại: Chung cư T, phường D, quận H, thành phố Hồ Chí Minh).
Cùng với đó, N và T2 đã thừa nhận và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu được là T2 đã trực tiếp gọi điện cho chủ thẻ rồi cung cấp thông tin thẻ tín dụng, mã OTP cho N để chiếm đoạt tài sản của 12 bị hại tổng cộng số tiền 249.895.000 đồng, cụ thể:
- - Ngày 18/6/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 24.200.000 đồng của ông Nguyễn Văn H5 (sinh năm: 1971; trú tại: Thôn T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang).
- - Ngày 21/6/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng của chị Lê Thị H3 (sinh năm: 1995; trú tại: Thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa).
- - Ngày 07/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 27.750.000 đồng của chị Nguyễn Thị Minh H1 (sinh năm: 1995; trú tại: B B, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh).
- - Ngày 11/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 19.000.000 đồng của anh Đinh Văn B1 (sinh năm: 1986; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định).
- - Ngày 11/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 49.950.000 đồng của anh Phạm Văn T5 (sinh năm: 1989; trú tại: Thôn C, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng).
- - Ngày 12/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 33.300.000 đồng của anh Ngô Minh S (sinh năm: 2000; trú tại: B tổ B, ấp B, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh).
- - Ngày 15/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 9.990.000 đồng của ông Huỳnh Phú C (sinh năm: 1978; trú tại: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh).
- - Ngày 15/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 15.540.000 đồng của ông Huỳnh Văn T4 (sinh năm: 1969, trú tại: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An).
- - Ngày 17/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 8.960.000 đồng của chị Vũ Thu T3 (sinh năm: 1988; trú tại: TDP L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên).
- - Ngày 18/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 2.795.000 đồng của Phạm Thanh T6 (sinh năm: 1989; trú tại: Tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai).
- - Ngày 19/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 19.980.000 đồng của anh Lê Văn H4 (sinh năm: 1989; trú tại: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Nam Định).
- - Ngày 19/7/2023, T2 và N đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 23.430.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thanh N3 (sinh năm: 1998; trú tại: Làng T, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội).
Tổng cộng, N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 17 bị hại với tổng số tiền 428.625.000 đồng. Trong đó, T2 đã giúp sức để N thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 12 bị hại tổng cộng số tiền 249.895.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, N chia cho T2 khoảng 40.000.000 đồng, còn lại N tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY Z FLIP 4, số IMEI: 353185442054377; 01 (một) điện thoại Iphone 14 promax, màu tím, IMEI 1: 352301453018471, IMEI 2: 352301452832823; 01 (một) sim điện thoại Vinaphone số 0857.127.xxx, số seri sim: 89840200011486033853; 01 (một) sim điện thoại Viettel số 0963.681.xxx; số seri sim: 8984048000901271900; 01 (một) CMND số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 13/3/2019; 01 (một) CCCD số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 05/12/2021; 01 (một) thẻ N6 số 9704280042111201, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 (một) thẻ N7 số 9704365523554954014, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 (một) thẻ V1 số: 4158150064006302, tên N8; 01 (một) thẻ tín dụng N9 số: 9704039928984598, tên N8; 01 (một) thẻ thanh toán Napas N10 số: 9704030143280516, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 (một) thẻ V1 số 4198349922543306, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 (một) thẻ V1, số serial 6715L4W thu giữ của Nguyễn Thị Thu N.
- - 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số IMEI: 357260094775060, gắn 01 sim điện thoại số 0587.883.xxx, mật khẩu 200715; 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh có số IMEI 1: 354493096688170, IMEI 2: 354495091688170; 01 (một) sim điện thoại Viettel số: 0325.658.xxx, có số Seri: 8984048000923192369; 01 (một) sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri: 8984048000917806526; 01 (một) sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri 8984048000910948095; 01 (một) thẻ ngân hàng ACB màu xanh trên thẻ ghi thông tin số tài khoản 24443827, tên Tran Thi Thanh T7; 16 (mười sáu) tờ tiền ngân hàng N11 mệnh giá 500.000 đồng (tổng cộng là 8.000.000 đồng) thu giữ của Trần Thị Thanh T1.
- - 15.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Chí N4.
* Về dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Thị Thu N đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Phạm Thị Lệ Q số tiền 80.000.000 đồng và đề nghị xem xét sử dụng số tiền 15.000.000 đồng mà Nguyễn Chí N4 giao nộp để khắc phục, bồi thường cho bị hại Cao Hoài N2. Trần Thị Thanh T1 đề nghị xem xét sử dụng số tiền 8.000.000 đồng mà bị can đã giao nộp để khắc phục cho các bị hại.
Tại Cáo trạng số 115/CT-VKS-P1 ngày 01 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
- Diễn biến phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đã thỏa thuận: bị cáo N bồi thường số tiền 284.155.000 đồng; bị cáo T1 bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Bị cáo N đề nghị số tiền 15.000.000 đồng do Nguyễn Chí N4 nộp dùng để trả cho anh Cao Hoài N2 vì đây là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh N2; bị cáo T1 đề nghị số tiền 8.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo và 22.000.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai dùng để bồi thường cho anh Ngô Minh S hiện có mặt tại phiên toà.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b, g, m khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 9 năm đến 10 năm tù.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh T1 từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho các bị hại số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động SAMSUNG GALAXY Z FLIP 4; 01 điện thoại Iphone 14 promax, màu tím; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, gắn 01 sim điện thoại số 0587.883.xxx, mật khẩu 200715; 01 điện thoại Nokia màu xanh.
Trả lại cho bị cáo N: 01 CCCD số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 05/12/2021.
Giao bị hại Cao Hoài N2 được nhận: số tiền 15.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Chí N4.
Giao bị hại anh Ngô Minh S được nhận: 8.000.000 đồng thu giữ của Trần Thị Thanh T1.
Tịch thu tiêu hủy: các vật chứng còn lại.
Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị hại có mặt tại phiên toà đều xác nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại chị Phạm Thị Lệ Q trình bày gia đình bị cáo N đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của chị, anh Cao Hoài N2 và anh Ngô Minh S nhất trí với ý kiến bồi thường của các bị cáo và đề nghị toà án buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại. Về hình phạt, các bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi liên quan anh Trương Phi H là chồng của bị cáo T1 trình bày: Bị cáo T1 đã tác động gia đình nộp số tiền 22.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tại tỉnh Gia Lai để bồi thường cho bị hại. Gia đình không yêu cầu gì đối với số tiền này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều ra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Vì muốn có tiền để sử dụng cá nhân nên các bị cáo Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1 đã nhiều lần sử dụng dữ liệu Data để gọi điện cho các bị hại có thẻ tín dụng và đưa ra các thông tin gian dối là nhân viên ngân hàng, tư vấn, hỗ trợ các dịch vụ có lợi đối với người sử dụng thẻ như vay lãi suất thấp, huỷ phí bảo hiểm, chuyển đổi hạn mức sang tiền mặt với phí thấp... làm cho các bị hại tin tưởng cung cấp số tài khoản, loại thẻ, mã OTP cho các bị cáo. Các bị cáo dự đoán hạn mức và thực hiện các lệnh chuyển tiền qua các tài khoản mua sắm trực tuyến để chiếm đoạt tiền của các bị hại. Từ tháng 6/2023 đến ngày 25/7/2023, các bị cáo N, T1 đã chiếm đoạt của 17 bị hại tổng số tiền 428.625.000 đồng. Trong đó, N trực tiếp gọi điện lừa đảo chiếm đoạt của 05 bị hại 178.730.000 đồng; T1 giúp sức cho N chiếm đoạt của 12 bị hại 249.895.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
- [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, dùng thủ đoạn gian dối, giả mạo nhân viên Ngân hàng chiếm đoạt tài sản của các bị hại, đến nay chưa bồi thường xong, gây thiệt hại tài sản của các bị hại và gây dư luận xấu đến hoạt động bình thường của nhân viên làm việc tại các Ngân hàng.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập nào khác, dùng tiền chiếm đoạt để chi tiêu làm nguồn sống chính, nhiều lần dùng thủ đoạn tinh vi để thực hiện hành vi phạm tội nên đều bị áp dụng các tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội” theo điểm b, g, m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải bằng cách tác động gia đình bồi thường một phần cho các bị hại, là phụ nữ, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, đều có người thân có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Bị cáo N là người khởi xướng và thực hành tích cực chiếm đoạt và sử dụng tiền của 17 bị hại (Ngoài ra còn số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 416.827.500 đồng chưa chứng minh được bị hại nên chưa xem xét) nên bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc nhất; bị cáo T1 cũng thực hành tích cực, giúp cho bị cáo N chiếm đoạt tiền của 12 bị hại và được bị cáo N cho tiền hưởng lợi, số người, số tiền thấp hơn bị cáo N, vai trò thấp hơn nên mức án cũng thấp hơn bị cáo N. Hai bị cáo đều bị áp dụng nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên đều bị xử mức án nghiêm khắc trong khung hình phạt.
- [4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà các bị cáo N và T1 đã thoả thuận số tiền mỗi bị cáo phải bồi thường. Theo đó, bị cáo T1 chịu 50.000.000 đồng, bị cáo N chịu toàn bộ số tiền còn lại. Xét thoả thuận là tự nguyện và tương ứng số tiền bị cáo hưởng lợi nên được chấp nhận.
Đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo T1 tự nguyện bồi thường cho Ngô Minh S; số tiền 15.000.000 đồng do anh Nguyễn Chí N4 nộp là do bị cáo N chiếm đoạt của anh Cao Hoài N2 nên Hội đồng xét xử giao anh S, anh N2 nhận.
Như vậy, tổng số tiền phải bồi thường cho 17 bị hại là 428.625.000 đồng được xem xét buộc các bị cáo bồi thường như sau:
- - Bồi thường cho bị hại Phạm Thị Lệ Q số tiền 79.470.000 đồng. Bị cáo N đã bồi thường xong trước khi mở phiên toà.
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị T2 số tiền 18.620.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Bùi Thị H6 số tiền 49.280.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Lê Xuân H2 số tiền 14.560.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Cao Hoài N2 số tiền 16.800.000 đồng, khấu trừ số tiền 15.000.000 đồng do anh Nguyễn Chí N4 giao nộp. Còn phải bồi thường 1.800.000 đồng.
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H5 số tiền 24.200.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Lê Thị H3 số tiền 15.000.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Minh H1 số tiền 27.750.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Đinh Văn B1 số tiền 19.000.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Phạm Văn T5 số tiền 49.950.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Ngô Minh S số tiền 33.300.000 đồng, khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T2 và 22.000.000 đồng bị cáo T2 đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai (Theo biên lai số 0000684 ngày 16/8/2024). Còn phải bồi thường 3.300.000 đồng.
- - Bồi thường cho bị hại Huỳnh Phú C số tiền 9.990.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn T4 số tiền 15.540.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Vũ Thu T3 số tiền 8.960.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Phạm Thanh T6 số tiền 2.795.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Lê Văn H4 số tiền 19.980.000 đồng;
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thanh N3 số tiền 23.430.000 đồng.
- [5] Về vật chứng:
04 chiếc điện di dộng là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước được niêm phong tại các phong bì như sau:
- + 01 phong bì của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G, được niêm phong bằng giấy, có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết họ tên của Phạm Thành C1, Đặng Nam A, Nguyễn Đức C2, Đồng Duy P2, Trần Đình P3, Nguyễn Thị Thu N tại Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/10/2023 có: 01 điện thoại di động S2, IMEI 353185442054377; 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max màu tím, IMEI1: 352301453018471, IMEI 2: 352301452832823.
- + 01 phong bì của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G, được niêm phong bằng giấy, có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết họ tên của Phạm Thành C1, Đặng Nam a, Nguyễn Đức C2, Đồng Duy P2, Trần Đình P3, Trần Thị Thanh T1 tại Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/10/2023 có: 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng, IMEI: 357260094775060, gắn sim điện thoại 0587.883.xxx; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, IMEI1: 354495091688170.
- - 01 sim điện thoại Vinaphone số 0857.127.xxx; 01 sim điện thoại Viettel số 0963.681.xxx; 01 thẻ N6 số 9704280042111201, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 thẻ N7 số 9704365523554954014, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 thẻ Visa VP Bank số: 4158150064006302, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 thẻ tín dụng N số: 9704039928984598, tên N8; 01 thẻ thanh toán Napas N10 số: 9704030143280516, tên Nguyen Thi Thu N5; 01 thẻ Visa VP Bank số 4198349922543306, tên Nguyen Thi Thu N5; thẻ V1, số serial 6715L4W thu giữ của Nguyễn Thị Thu N; 01 sim điện thoại Viettel số: 0325.658.xxx; 01 sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri: 8984048000917806526; 01 sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri 8984048000910948095; 01 thẻ ngân hàng ACB màu xanh trên thẻ ghi thông tin số tài khoản 24443827, tên Tran Thi Thanh T7 là phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 CMND số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 13/3/2019 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 CCCD số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 05/12/2021 là giấy tờ tùy thân nên trả lại cho bị cáo.
- - Số tiền 15.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Chí N4 là tiền do bị cáo N lừa đảo chiếm đoạt của bị hại anh Cao Hoài N2 nên giao anh N2 nhận.
- - 16 (mười sáu) tờ tiền ngân hàng N11 mệnh giá 500.000 đồng (tổng cộng là 8.000.000 đồng) thu giữ của Trần Thị Thanh T1: tại phiên tòa bị cáo T1 đề nghị bồi thường số tiền này cho bị hại anh Ngô Minh S nên anh S được nhận số tiền này.
- [6] Các vấn đề khác: Tiền thu lợi bất chính còn lại chưa chứng minh được bị hại; hành vi Thu thập, tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1; hành vi của những người khác có liên quan như đối tượng sử dụng tài khoản Zalo tên “Minh Hoàng”, Huỳnh Ngọc H7, Nguyễn Chí N4, Nguyễn Thùy D, Trương Phi H (là chồng của T1) đã được kết luận chưa đủ căn cứ xem xét trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, có căn cứ thì xử lý sau.
- [7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, g, m khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 10 (M2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh T1 8 (T8) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Tổng số tiền còn phải bồi thường số tiền là 304.155.000 đồng (Ba trăm lẻ bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu N phải nộp số tiền 284.155.000 đồng (Hai trăm tám mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và bị cáo Trần Thị Thanh T1 phải nộp số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để bồi thường cho các bị hại như sau:
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị T2 số tiền 18.620.000 đồng (Mười tám triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Bùi Thị H6 số tiền 49.280.000 đồng (Bốn mươi chín triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Lê Xuân H2 số tiền 14.560.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Cao Hoài N2 số tiền còn lại là 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng).
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H5 số tiền 24.200.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Lê Thị H3 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Minh H1 số tiền 27.750.000 đồng (Hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Đinh Văn B1 số tiền 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Phạm Văn T5 số tiền 49.950.000 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Ngô Minh S số tiền còn lại là 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Huỳnh Phú C số tiền 9.990.000 đồng (Chín triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn T4 số tiền 15.540.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Vũ Thu T3 số tiền 8.960.000 đồng (Tám triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Phạm Thanh T6 số tiền 2.795.000 đồng (Hai triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Lê Văn H4 số tiền 19.980.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng);
- - Bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thanh N3 số tiền 23.430.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Anh Ngô Minh S được nhận số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000684 ngày 16/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) phong bì của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G, được niêm phong bằng giấy, có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết họ tên của Phạm Thành C1, Đặng Nam A, Nguyễn Đức C2, Đồng Duy P2, Trần Đình P3, Nguyễn Thị Thu N.
- - 01 (Một) phong bì của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G, được niêm phong bằng giấy, có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G và chữ ký, chữ viết họ tên của Phạm Thành C1, Đặng Nam a, Nguyễn Đức C2, Đồng Duy P2, Trần Đình P3, Trần Thị Thanh T1.
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) sim điện thoại Vinaphone số 0857.127.xxx, số seri sim: 89840200011486033853;
- - 01 (một) sim điện thoại Viettel số 0963.681.xxx; số seri sim: 8984048000901271900;
- - 01 (một) thẻ N6 số 9704280042111201, tên Nguyen Thi Thu N5;
- - 01 (một) thẻ N7 số 9704365523554954014, tên Nguyen Thi Thu N5;
- - 01 (một) thẻ V1 số: 4158150064006302, tên N8;
- - 01 (một) thẻ tín dụng N9 số: 9704039928984598, tên N8;
- - 01 (một) thẻ thanh toán Napas N10 số: 9704030143280516, tên Nguyen Thi Thu N5;
- - 01 (một) thẻ V1 số 4198349922543306, tên Nguyen Thi Thu N5;
- - 01 (một) thẻ V1, số serial 6715L4W thu giữ của Nguyễn Thị Thu N;
- - 01 (một) sim điện thoại Viettel số: 0325.658.xxx, có số Seri: 8984048000923192369;
- - 01 (một) sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri: 8984048000917806526;
- - 01 (một) sim điện thoại Viettel kiểm tra không hiện số, có số Seri 8984048000910948095;
- - 01 (một) thẻ ngân hàng ACB màu xanh trên thẻ ghi thông tin số tài khoản 24443827, tên Tran Thi Thanh T7;
- - 01 (một) CMND số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 13/3/2019;
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu N: 01 (một) CCCD số [...], tên Nguyễn Thị Thu N, cấp ngày 05/12/2021;
* Anh Cao Hoài N2 được nhận: số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Chí N4.
* Anh Ngô Minh S được nhận: 16 (mười sáu) tờ tiền ngân hàng N11 mệnh giá 500.000 đồng (tổng cộng là 8.000.000 đồng) thu giữ của Trần Thị Thanh T1.
Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 137/2024 lập ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Thị Thu N và Trần Thị Thanh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu N phải chịu 14.207.750 đồng (Mười bốn triệu hai trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thị Thanh T1 phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
- Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, g, m khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023. Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh T1 8 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2023.
