Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Bà Phạm Thị Cẩm Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Lâm Sển - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Võ Thị Huệ T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1997 tại Đ, Cà Mau; CCCD [...]; Nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Võ Văn K và bà Mai Ngọc P; chồng Hồ Hữu Đ; con có 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 29/3/2024, bị tạm giữ ngày 30/3/2024, tạm giam ngày 08/4/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Nhựt L, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1999 tại T, Cà Mau; Số định danh cá nhân 096099007316; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; con chưa có; Tiền án: Ngày 31/5/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 43/2018/HSST (chưa nộp tiền án phí hình sư sơ thẩm, chưa được xóa án tích); tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 29/3/2024, bị tạm giữ ngày 30/3/2024, tạm giam ngày 08/4/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 28/3/2024, Võ Thị H Thư thuê xe ôm đi từ nhà ở ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau về nhà trọ “Minh Đăng” ở khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang là nơi T đang thuê trọ. Trên đường đi đến đoạn cầu T, thì T gặp T1 (không rõ nhân thân, lai lịch), do biết T1 có bán ma túy nên T hỏi T1 còn bán ma túy không, thì T1 trả lời có bán ma túy, nên T hỏi mua của T1 02 (hai) viên kẹo (ma túy loại thuốc lắc), 02 (hai) chấm khây (ma túy loại Ketamine) và 05 (năm) gói ma túy đá với tổng giá tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng), mua ma túy xong, T mang về phòng trọ cất giấu để sử dụng.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, Nguyễn Văn T2 rủ Nguyễn Nhựt L đến phòng trọ của T chơi, thì L đồng ý. Khi L và T2 đến phòng trọ của T được một lúc, thì L lấy bọc rác ra lộ bỏ vào thùng rác, lúc L vừa quay vào đến cửa phòng trọ của T, thì lực lượng Công an huyện A ập vào bắt quả tang Nguyễn Nhựt L đang có hành vi cất giấu ma túy trên người (khi thấy lực lượng Công an L ném gói ma túy tại cửa ra vào phòng trọ), Võ Thị Huệ T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ. Công an huyện A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở cơ quan Công an để làm rõ sự việc.

Tại cơ quan điều tra, bị can Võ Thị Huệ T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, bị can Nguyễn Nhựt L thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ các vật chứng sau:

- Thu trên bàn trang điểm trong phòng ngủ của Võ Thị Huệ T:

  • + 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có 02 (hai) viên nén màu vàng; 01 (một) gói nylon rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy.
  • + 01 (một) bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + 01 (một) hộp nhựa trong suốt bên trong chứa 01 (một) cân điện tử màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) gói nylon có rãnh gài, bên trong có chứa 01 (một) gói nylon có rãnh gài, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy; 03 (ba) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy; 02 (hai) gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa nhiều hại tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy.

- Thu trong ngăn tủ dưới cùng của bàn trang điểm trong phòng ngủ của Võ Thị Huệ T: 02 (hai) cái nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

- Thu trên kệ nhựa cạnh bàn trang điểm trong phòng ngủ của Võ Thị H thư:

  • + 01 (một) hộp giấy bên trong có chứa 06 (sáu) cái nỏ bằng thủy tinh.
  • + 01 (một) cây cân điện tử màu đen đã qua sử dụng.
  • + 60 (sáu mươi) gói nylon có rãnh gài.

- T3 tại vị trí cửa ra vào phòng trọ của Võ Thị Huệ T: 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Khánh Hội, bên trong có 01 (một) gói nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có 01 (một) gói nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất gửi giám định là chất ma túy (Khi Công an đến bắt quả tang Nguyễn Nhựt L ném bỏ ở vị trí trên).

Tại Kết luận giám định số: 284/KL-KTHS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:

- Gói 1:

  • + 02 (hai) viên nén màu vàng chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9277 gam.
  • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2929 gam.

- Gói 02:

  • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4504 gam.
  • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 03 (ba) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ và 02 (hai) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,7533 gam.

- Gói 03: Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3671 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 50, Nghị định 57/NĐ- CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS-AM ngày 13-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Võ Thị Huệ Thư về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Nhựt L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên kết luận:

- Bị cáo Võ Thị Huệ T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy đề nghị:

  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị H Thư từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị H Thư từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt theo quy định.

- Bị cáo Nguyễn Nhựt L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt L từ 02 năm đến 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- Bị cáo trình bày: Các bị cáo T và L thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

[2.1] Vào khoảng 20 giờ 42 phút ngày 29/3/2024, tại khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an huyện A bắt quả tang Võ Thị Huệ T tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ, kết quả điều tra xác định số ma túy trên Võ Thị Huệ T cất giấu để sử dụng thì bị Công an phát hiện. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Võ Thị Huệ T tàng trữ là loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,681 gam và Ketamine có tổng khối lượng 0,7433 gam. Đồng thời, khi khám xét còn phát hiện Võ Thị Huệ T tàng trữ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy làm bằng chai nhựa, nắp màu trắng được khui 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh bị vỡ, đã qua sử dụng và 08 (tám) nỏ thủy tinh dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

[2.2] Cũng vào khoảng 20 giờ 42 phút ngày 29/3/2024, tại khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an huyện A bắt quả tang Nguyễn Nhựt L đang tàng trữ trái phép chất ma túy, khi bị Công an phát hiện thì L ném số ma túy đang tàng trữ xuống cửa phòng trọ của Huệ T để che giấu. Kết quả điều tra xác định số ma túy trên Nguyễn Nhựt L cất giấu để sử dụng thì bị Công an phát hiện. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Nguyễn Nhựt L tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3671 gam.

[3] Về tội danh:

[3.1] Hành vi của các bị cáo T và L đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của các bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo T tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng là 1,681 gam và Ketamine có tổng khối lượng 0,7433 gam; loại ma túy mà bị cáo L tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng là 0,3671 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Võ Thị Huệ TNguyễn Nhựt L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3.2] Ngoài tàng trữ trái phép ma túy, Võ Thị Huệ T tàng trữ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy làm bằng chai nhựa, nắp màu trắng được khui 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh bị vỡ, đã qua sử dụng và 08 (tám) nỏ thủy tinh. Mục đích tàng trữ các dụng cụ này bị cáo xác định là để sử dụng ma túy. Như vậy, hành vi của bị cáo T đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Viện Kiểm sát truy tố bị cáo T phạm tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đối với bị cáo L ngày 31/5/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 43/2018/HSST, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo T đã thực hiện liên tục 02 tội phạm nghiêm trọng, khối lượng tàng trữ ma túy tương đối lớn; bị cáo L có nhân thân xấu. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo T, L đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo L phạm tội nghiêm trọng; bị cáo T đã phạm một lúc 02 tội, cả 02 tội đều là tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương, nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo L có nhân thân xấu; số ma túy bị cáo T tàng trữ tương đối nhiều, phạm liên tục 02 tội nên cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Do bị cáo Thư phạm nhiều tội nên hình phạt sẽ được tổng hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để buộc bị cáo chấp hành án.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy các bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng, ma túy, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy là vật cấm tàng trữ; nhiều đồ vật có liên quan hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí, bị cáo Võ Thị Huệ TNguyễn Nhựt L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Đối với Nguyễn Văn T2 không đủ căn cứ để chứng minh có vai trò đồng phạm với các bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Công an huyện A không xử lý là có căn cứ.

Đối với bà Nguyễn Thị Bích T4 là đại diện theo pháp luật cơ sở kinh doanh, để xảy ra hoạt động tàng trữ trái phép và sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện A đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Đối với đối tượng tên T1 có liên quan đến việc bán ma túy cho bị cáo, tuy nhiên chưa làm rõ được lai lịch, nhân thân, chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị Huệ T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
    1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Huệ T 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 254, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Huệ T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
    3. Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Võ Thị Huệ T chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang (ngày 29/3/2024).
    4. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhựt L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt L 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    2. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
  3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu vụ số 308/Gói 01, có chữ ký của người chứng kiến Trần Nhựt H1, giám định viên Lê Đức H2 và hình các con dấu tròn màu đỏ của phòng K1 Công an tỉnh K. Bên trong phong bì bao gồm 03 (ba) gói nylon đựng mẫu và:
      • + Chất bột màu vàng (được nghiền mịn từ 02 (hai) viên nén màu vàng) còn lại sau giám định là Methamphetamine có khối lượng là 0,8804 gam (đựng trong 01 (một) gói nylon).
      • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ còn lại sau giám định là Ketamine có khối lượng là 0,2872 gam (đựng trong 01 (một) gói nylon).
    • - 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số 308/Gói 2, có chữ ký của người chứng kiến Trần Nhựt H1, giám định viên Lê Đức H2 và các hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh K. Bên trong phong bì bao gồm 07 (bảy) gói nylon đựng mẫu và:
      • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon có rãnh gài còn lại sau giám định là Ketamine có khối lượng 0,4406 gam (đựng trong 01 (một) gói nylon).
      • + Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 03 (ba) gói nylon có rãnh gài, viền màu đỏ và 02 (hai) gói nylon hàn kín còn lại sau giám định là Methamphetamine có khối lượng là 0,7397 gam (đựng trong 02 (hai) gói nylon).
    • - 01 (một) phong bì được niêm phong, có ký hiệu vụ số 308/Gói 3, có chữ ký của người chứng kiến Trần Nhựt H1, giám định viên Lê Đức H2 và các hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh K. Bên trong phong bì bao gồm 03 (ba) gói nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định là Methamphetamine có khối lượng là 0,3569 gam (dựng trong 01 (một) gói nylon).
    • - 08 (tám) nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy làm bằng chai nhựa, nắp màu trắng được khui 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh bị vỡ, đã qua sử dụng.
    • - 60 (sáu mươi) gói nylon trong suốt, có rãnh gài, chưa qua sử dụng.
    • - 01 (một) hộp nhựa trong suốt, phía trên nắp có dòng chữ "DENTAL FLOSSERS", đã qua sử dụng.
    • - 02 (hai) cân điện tử bằng nhựa, màu đen, đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) hộp giấy, làm bằng giấy, đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) vỏ gói thuốc có chữ "Khánh Hội", đã qua sử dụng.

    (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 39/QĐ-VKS-AM ngày 13-8-2024 của VKSND huyện An Minh).

  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Võ Thị Huệ TNguyễn Nhựt L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11-9-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND TT. Thứ Mười Một, AM, KG;
  • - UBND xã Minh Thuận, UMT, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Huệ Th và Nguyễn Nhựt L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger