|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 11/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi;
Ông Bùi Thanh Bình.
-Thư ký phiên toà: bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Leo Văn T,( tên gọi khác: Không), S năm 1993; tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: sán dìu; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Leo Văn H và bà: Lưu Thị L; Vợ: Đào Việt T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 109/2013/HSST ngày 31/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng 04 ngày về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; (đã được xoá).
bị tạm giữ từ ngày 13/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).
*Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: số nhà C, đường L, phố G, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình;( vắng mặt).
* Người làm chứng:
- - Anh Vũ Hải L1, sinh năm 2003 ( vắng mặt).
- - Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 2005. ( vắng mặt).
* Người chứng kiến: Chị Phạm Thị T3, sinh năm 1987. ( vắng mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:
Leo Văn T làm nghề lái xe tự do. Khoảng 11 giờ 00 ngày 24/02/2024, T được anh Nguyễn Duy L2, sinh năm 1973, trú tại số A, ngõ A, đường P, phường D, quận C, thành phố Hà Nội thuê đón đoàn khách là người Hàn Quốc từ sân bay N chở về thành phố N để thăm quan du lịch. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T chở khách đến thuê phòng nghỉ tại Khách sạn H1, phường N, thành phố N. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, T dọn dẹp xe ô tô thì làm rơi chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 màu tím của mình xuống đất làm chiếc điện thoại bị vỡ màn hình không sử dụng được. Sau đó, T thuê một người đàn ông không quen biết lái xe taxi chở đến Cửa hàng mua bán, sửa chữa phụ kiện, điện thoại Tâm Đức M, ở địa chỉ số H, đường T, phố P, phường T, thành phố N của anh Nguyễn Văn Đ ( anh Đ mới thuê chưa làm thủ tục đăng ký kinh doanh) để sửa điện thoại. Khi đó trong cửa hàng có hai nhân viên là anh Vũ Hải L1 và chị Nguyễn Thị T2 đang đứng bán hàng. T đến chỗ anh L1 đứng, đưa cho anh L1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 màu tím bị hỏng của mình để nhờ kiểm tra, sửa chữa. Anh L1 cầm điện thoại đến quầy sửa chữa điện thoại của cửa hàng kiểm tra, còn T đến ghế ngồi chờ. Trong lúc ngồi chờ tại cửa hàng T hỏi anh L1 giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám đang được trưng bày trong tủ kính của cửa hàng, anh L1 lấy chiếc điện thoại này đưa cho T xem, cung cấp mật khẩu là “000000” và báo giá hơn 14 triệu đồng. T cầm điện thoại Apple Iphone 12 Pro Max màu xám mở ra xem rồi trả lại cho anh L1, anh L1 đặt chiếc điện thoại này ở trên mặt bàn tại cửa hàng rồi đến quầy sửa điện thoại, còn T tiếp tục ngồi ở ghế chờ anh L1 sửa điện thoại. Đến khoảng 21 giờ 31 phút cùng ngày, T lại lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Promax màu xám đang để trên mặt bàn của cửa hàng lên xem lần thứ hai. Quan sát thấy nhân viên cửa hàng không để ý, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. T đứng dậy cầm chiếc điện thoại ở tay trái rồi đi ra chỗ anh L1 đang sửa điện thoại giả vờ xem sửa điện thoại để đút chiếc điện thoại vào túi quần bên trái, sợ bị lộ nên T lại giấu chiếc điện thoại vào túi áo khoác bên trái rồi quay lại vị trí cũ ngồi chờ sửa điện thoại. Sau khi anh L1 sửa xong điện thoại thì đưa lại cho T, T mua thêm 01 chiếc ốp điện thoại Iphone 12 với giá là 100.000 đồng và thanh toán cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 2.600.000 đồng bao gồm tiền sửa màn hình, loa và tiền mua ốp điện thoại đồng thời để lại thông tin bảo hành gồm tên và số điện thoại 0327.271.xxx của T. Sau khi sửa song, T thuê xe taxi của một người đàn ông không quen biết chở về khách sạn H1 nghỉ. Sáng ngày 25/02/2024, T chở đoàn khách đi thăm quan khu du lịch T, B thuộc huyện H, tỉnh Ninh Bình rồi lại chở khách về sân bay N. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày T về nhà, lấy máy điện thoại trộm cắp được ra lắp sim và sử dụng.
2
Khoảng 21 giờ, ngày 28/02/2024, anh Nguyễn Văn Đ đến kiểm tra cửa hàng thì phát hiện bị mất 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám. Anh Đ kiểm tra lại camera của cửa hàng thì phát hiện được sự việc trên và trình báo Công an phường T, thành phố N. Ngày 12/3/2014, Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã triệu tập T lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T đã viết đơn đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp 01 chiếc thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám đã trộm cắp ở cửa hàng Tâm Đức M và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 12 màu xanh của mình cho Cơ quan điều tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố N, kết luận: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám (máy đã qua sử dụng) có giá trị là 10.000.000 đồng.
Công an phường T, thành phố N đã sao trích dữ liệu Camera tại Cửa hàng điện thoại Tâm Đức M tối ngày 24/02/2024: sao trích hình ảnh vào 02 tệp video lưu trữ vào 01 USB màu đen nhãn hiệu hoco 4GB. Tại bản kết luận giám định số 398/KL-KTHS&ĐT ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám mà Leo Văn T đã trộm cắp tại Cửa hàng điện thoại Tâm Đức M; trả lại cho Leo Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 màu xanh thu giữ của Leo Văn T. Anh Đ đã nhận lại tài sản và có đơn xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho T. Ngoài ra không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Quá trình điều tra, Leo Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản cáo trạng số 90/CT- VKS, ngày 10/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Leo Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà :
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS;
3
Tuyên bố: bị cáo Leo Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Leo Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục; Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Leo Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản sao trích dữ liệu camera, kết luận giám định số 398/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố N, biên bản xác định hiện trường +, sơ đồ + bản ảnh; vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng, người chứng kiến... Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 31 phút, ngày 24/02/2024, tại Cửa hàng mua bán, sửa chữa phụ kiện, điện thoại Tâm Đức M, địa chỉ: số H, đường T, phố P, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Leo Văn T có hành vi lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của nhân viên trong cửa hàng trong việc trông coi, quản lý tài sản, đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám trị giá 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Leo Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173 BLHS: Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
4
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
* Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: ngày 31/10/2013 bị cáo bị kết án 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng 04 ngày về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; ngày 04/01/2015 bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và nộp án phí. Tính đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đương nhiên được xóa án tích nhưng cũng cho thấy bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo chỉ mang tính bột phát không có mục đích từ đầu, bị cáo bị kết án nhưng đã được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 BLHS, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo đang cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
* Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
5
[2] Các vấn đề khác:
[2.1] Xử lý vật chứng và các tài sản bị thu giữ:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám thu giữ của bị cáo T: quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ đã bị bị cáo T trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho anh Đ là có căn cứ, đúng quy định.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 màu xanh thu giữ của bị cáo T: quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bị cáo T là có căn cứ, đúng quy định.
[2.2] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố N đã trả lại tài sản mà bị cáo T đã trộm cắp là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max màu xám cho bị hại là anh Nguyễn Văn Đ. Sau khi nhận lại tài sản bị hại không yêu cầu gì đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[3] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Leo Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: bị cáo Leo Văn T 10 (mười ) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng; thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày
6
tuyên án 11/7/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Leo Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Giang Thị Thúy Thu |
7
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 10 tháng án treo
