Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;
  2. Bà Nguyễn Hồ Thanh Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo họ và tên:

- Huỳnh Minh Đ (tên gọi khác: /), sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 6/5 tổ F, khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Phục vụ; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lương Công T (đã chết) và con bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1977; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 182/QĐ-XPHC ngày 26/6/2023 của Công an Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/9/2023 và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, đến ngày 12/9/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Trần Minh H (tên gọi khác: /), sinh năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T2, sinh năm 1965 và con bà Trần Thị T3, sinh năm 1968; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/9/2023 và áp dụng biện pháp tạm giữ, đến ngày 12/9/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Phan Thị Kiều H1 (tên gọi khác: /), sinh năm 1996 tại Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp H, xã H, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: 458/20/1 H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên phục vụ; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn B, sinh năm 1973 và con bà Dương Thị A, sinh năm 1977; họ tên chồng: không; có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/9/2023 và áp dụng biện pháp tạm giữ, đến ngày 12/9/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Nguyễn Thị Mỹ T4 (tên gọi khác: /), sinh năm 2004 tại Trà Vinh; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: 458/20/1 H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên phục vụ; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1980 và con bà Quảng Thị Kim T5, sinh năm 1983; họ tên chồng: không; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/9/2023 và áp dụng biện pháp tạm giữ, đến ngày 12/9/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Công ty TNHH K; địa chỉ: 9 đường N, khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện hợp pháp của Công ty: Ông Nguyễn Việt T6, sinh năm 1989; địa chỉ: 9 đường N, khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – là đại diện theo ủy quyền (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1 và Nguyễn Thị Mỹ T4 là bạn bè và cùng nghiện ma túy. Khoảng 01 giờ ngày 01/9/2023, bị cáo Đ và H đến chơi tại nhà của bị cáo T4 và H1 ở phường B, Quận G. Tại đây sau khi ăn uống xong thì các đối tượng nảy sinh ý định tìm mua ma túy và thuê địa điểm để sử dụng. Số lượng ma tuý đã được cả nhóm thống nhất sử dụng là 02 gói ma túy khay (Ketamine), 03 viên kẹo (thuốc lắc). Sau khi thống nhất bàn bạc xong, Đ dùng tài khoản Zalo của Đ có N1 “Đạt G” gọi cho 01 thanh niên qua tài khoản Z có N1 “Ken Nguyễn” là người mà bị cáo Đ đã quen biết trước đó để đặt mua ma túy của “Ken Nguyễn” và địa điểm thuê do “Ken N2” thuê là khách sạn K địa chỉ 9 đường N, phường B, Quận G với tổng số tiền 5.400.000 đồng (bao gồm tiền mua ma túy và tiền phòng khách sạn để sử dụng ma túy). Trong đó Đ hùn 1.400.000 đồng, Nguyễn Thị Mỹ T4 hùn 2.000.000 đồng, Trần Minh H và Phan Thị Kiều H1 mỗi người hùn 1.000.000 đồng. Do bị cáo H1 hết tiền nên H1 nhờ bị cáo H đứng ra trả tiền giúp H1. Tất cả gom tiền mặt lại đưa cho bị cáo T4 để T4 dùng điện thoại chuyển tiền từ tài khoản của T4 vào tài khoản của Đ. Sau đó bị cáo Đ chuyển 5.200.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN VAN TUAN để thanh toán tiền mua ma túy và tiền phòng khách sạn.

Khoảng 04 giờ cùng ngày, các bị cáo Đ, H, H1, T4 đến khách sạn K đã đặt trước đó. Đến nơi, cả nhóm được “Ken Nguyễn” dẫn đưa lên phòng 308 mà không cần làm thủ tục tại quầy lễ tân của Khách sạn, Đ đưa tiếp 200.000 đồng tiền mặt cho “Ken Nguyễn”. Khi vào phòng, các bị cáo thấy ma túy đã được “Ken Nguyễn” chuẩn bị sẵn gồm 01 đĩa sứ có ma túy đã được nghiền, 01 gói ma tuý khay và 03 viên thuốc lắc, 01 tờ tiền cuộn tròn mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền 1.000 đồng và loa, đèn dùng vào việc sử dụng ma túy. Cả nhóm thay phiên nhau sử dụng số ma túy có trên đĩa bằng hình thức dùng tờ tiền 10.000 đồng hít qua đường mũi: Bị cáo Đ kẻ số ma túy trên đĩa sứ thành 08 đường, Đ dùng ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ, rồi đưa đĩa sứ cho H. H hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ rồi đưa cho H1. H1 hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ rồi đưa cho T4 sử dụng hết 02 đường còn lại. Ngoài ra, H bẻ 01 viên thuốc lắc màu nâu thành 3 mảnh, H sử dụng 01 mảnh và đưa cho T4 và H1 mỗi người 01 mảnh cùng nhau sử dụng. Đến 10 giờ cùng ngày khi đang sử dụng trái phép chất ma túy thì các bị cáo Đ, H, T4, H1 bị Công an Q kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ tang vật gồm: 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu nâu, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 đĩa sứ màu trắng có dính bụi màu trắng, 01 tờ tiền cuộn tròn mệnh giá 10.000 đồng dính bụi màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng dính bụi màu trắng, 01 máy chiếu màu đen, 01 đèn quay mày trắng, 01 loa hiệu Harman/Kardon màu đen.

Kết luận giám định số 9636/KL-KTHS ngày 08/09/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu nâu ký hiệu mẫu M1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8502 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ký hiệu mẫu M2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7029 gam, loại Ketamine; bụi màu trắng được ký hiệu mẫu M3 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0079 gam loại Ketamine; bụi màu trắng được ký hiệu mẫu M4 là ma túy ở thể rắn, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, loại Ketamine; bụi màu trắng được ký hiệu mẫu M5 là ma túy ở thể rắn, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, loại Ketamine.

Kết quả xét nghiệm nhanh ma túy đối với các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1 và Nguyễn Thị Mỹ T4 đều dương tính với ma túy tổng hợp.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1 và Nguyễn Thị Mỹ T4 thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSQ7 ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1, Nguyễn Thị Mỹ T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên xử các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1, Nguyễn Thị Mỹ T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh Đ từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Thị Kiều H1 từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T4 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt buộc mỗi bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1Nguyễn Thị Mỹ T4 là các đối tượng nghiện ma túy nên đã bàn bạc cùng nhau, thống nhất ý chí, góp tiền mua 02 gói ma túy khay (Ketamine), 03 viên kẹo (thuốc lắc) và thuê địa điểm để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể lẫn nhau, cụ thể: Bị cáo Huỳnh Minh Đ hùn 1.400.000 đồng, bị cáo T4 hùn 2.000.000 đồng, bị cáo HH1 mỗi người hùn 1.000.000 đồng, tổng cộng là 5.400.000 đồng. Tiếp đến bị cáo Đ thay mặt các bị cáo còn lại nhắn tin đặt mua ma túy. Sau khi có ma túy và địa điểm, cả nhóm thay phiên nhau sử dụng số ma túy có trên đĩa bằng hình thức dùng tờ tiền 10.000 đồng hít qua đường mũi: Bị cáo Đ kẻ số ma túy trên đĩa sứ thành 08 đường, Đ dùng ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ, rồi đưa đĩa sứ cho H. H hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ rồi đưa cho H1. H1 hít 02 đường ma túy trên đĩa sứ rồi đưa ma túy còn lại cho T4 sử dụng hết. Ngoài ra, H bẻ 01 viên thuốc lắc màu nâu thành 3 mảnh, H sử dụng 01 mảnh và đưa cho T4H1 mỗi người 01 mảnh cùng nhau sử dụng. Khi bị bắt quả tang Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1, Nguyễn Thị Mỹ T4Huỳnh Minh Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Thu giữ ma túy gồm 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu nâu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8502 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7029 gam, loại Ketamine.

Hành vi của các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1Nguyễn Thị Mỹ T4 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người đúng tội.

Hành vi của các bị cáo Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1Nguyễn Thị Mỹ T4 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng đều là những đối tượng đã nhiều lần sử dụng ma túy trong đó bị cáo Đ đã từng bị Công an phường C, Quận A lập biên bản vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và an ninh trật tự, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện nên các bị cáo đã thống nhất ý chí tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đánh giá để có mức hình phạt tương xứng, nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Huỳnh Minh Đ và hình dấu của Công an phường B, Quận G, bên trong có: 01 (một) gói nylon chứa 02 (hai) viên nén màu nâu (M1); 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (M2), xét tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Huỳnh Minh Đ và hình dấu của Công an phường B, Quận G, bên trong có: 01 (một) đĩa sứ màu trắng có dính bụi màu trắng (M3), xét tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn có dính bụi màu trắng (M4); 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có dính bụi màu trắng (M5), xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số thuê bao: 0902000600, số I: 356266768634914. Đây là điện thoại bị cáo Đ dùng để đặt mua ma túy và đặt phòng, xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, số thuê bao: 0932132467, số I: 864547054906792. Đây là điện thoại của bị cáo Trần Minh H dùng để liên lạc cá nhân, không sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên xét trả lại cho bị cáo H.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS max, màu vàng, số thuê bao: 0368921612, số I: 357260094004891. Đây là điện thoại của Nguyễn Thị Mỹ T4 dùng để chuyển tiền cho Đ thanh toán tiền mua ma túy, xét tịch thu sung quỹ Nhà nước
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số thuê bao: không có sim, số I: 359470081642805. Đây là điện thoại của bị cáo Phan Thị Kiều H1 dùng để liên lạc cá nhân không sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên xét trả lại cho bị cáo H1.
  • - 01 máy chiếu màu đen, 01 đèn quay màu trắng, 01 loa hiệu Harman/Kardon màu đen: Bị cáo Đ khai là của “Ken N2” dùng vào việc sử dụng ma túy nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Đối với người thanh niên có Zalo “Ken Nguyễn” và số tài khoản 266679798888 Ngân hàng V1 mang tên NGUYEN VAN TUAN là người nhận chuyển khoản tiền bán ma tuý cho Đ. Theo kết quả xác minh Nguyễn Văn T7 có hộ khẩu tại tổ A ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhưng không còn sinh sống tại địa phương, không rõ địa chỉ nơi ở hiện tại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh khi phát hiện sẽ xử lý sau.

Đối với khách sạn K là nơi các đối tượng Huỳnh Minh Đ, Trần Minh H, Phan Thị Kiều H1Nguyễn Thị Mỹ T4 thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã ra thông báo cho Công an phường B, Quận G tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Ngoài ra, cũng vào lúc 10 giờ ngày 01/9/2023, tại phòng 307 của Khách sạn K, Công an phường T cũng bắt quả tang có 06 đối tượng là Nguyễn Khắc T8, Nguyễn Trường H2, Nguyễn Thanh T9, Lê Trung D, Đặng Chí V, Nguyễn Lệ P đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, cùng một thời điểm là 10 giờ 00 phút ngày 01/9/2023 và cùng một địa điểm là tại khách sạn K, Công an phường T, Quận G đã bắt quả tang tại phòng 307 và 308 của khách sạn có các đối tượng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại được khởi tố thành 02 hồ sơ khác nhau. Tòa án nhân dân Quận 7 đã trả hồ sơ điều tra bổ sung theo Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 29/2004/HSST-QĐ ngày 13/5/2027 nhưng kết quả điều tra bổ sung chỉ thu giữ thêm các vật chứng của vụ án nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra làm rõ hành vi đối với các đối tượng “Ken N2”, “Nguyen Van Tuan” và các đối tượng trong Khách sạn Tân Phương L có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Minh Đ phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Minh H phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Kiều H1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Thị Kiều H1 phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

  4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T4 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T4 phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

  5. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Huỳnh Minh Đ và hình dấu của Công an phường B, Quận G, bên trong có: 01 (một) gói nylon chứa 02 (hai) viên nén màu nâu (M1); 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (M2) và 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Huỳnh Minh Đ và hình dấu của Công an phường B, Quận G, bên trong có: 01 (một) đĩa sứ màu trắng có dính bụi màu trắng (M3)
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn có dính bụi màu trắng (M4); 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có dính bụi màu trắng (M5), 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số thuê bao: 0902000600, số I: 356266768634914; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS max, màu vàng, số thuê bao: 0368921612, số Imei: 357260094004891; 01 máy chiếu màu đen; 01 đèn quay mày trắng; 01 loa hiệu Harman/Kardon màu đen
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Minh H 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, số thuê bao: 0932132467, số I: 864547054906792.
    • - Trả lại cho bị cáo Phan Thị Kiều H1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số thuê bao: không có sim, số I: 359470081642805.

    (Theo các Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 70 ngày 04/4/2024 và số 109 ngày 04/7/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

  6. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

  7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  8. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Thị Ngọc P1
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HUỲNH MINH ĐẠT, TRẦN MINH HUY, NGUYỄN THỊ MỸ THƯỜNG, PHAN THỊ KIỀU HOA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger