Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 92/2024/HS -ST

Ngày: 10-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Văn Bộ; ông Nguyễn Công Tân

Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy -Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 19/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phùng Văn T; Sinh năm: 1990; Giới tính: nam

Tên gọi khác: Không

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi tạm trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Chức vụ: không; Trình độ văn hoá: 11/12

Họ và tên cha: Phùng Văn C, sinh năm 1961

Họ và tên mẹ: Bế Thị H, sinh năm 1963

Vợ, con: chưa có.

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

Trần Thị H1, sinh năm 1952 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • - Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1951
  • - Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1975
  • - Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1977
  • - Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1980

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

  • - Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Bá T4, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Văn T, sinh năm 1990 ở thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn là lái xe thuê cho anh Nguyễn Bá T4, sinh năm 1990, địa chỉ tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (T có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp ngày 18/12/2019). Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C- 285.59 chở hàng gạch ốp lát đi giao cho các cửa hàng trên địa bàn các huyện H, T, tỉnh Bắc Giang; đi cùng T có anh Nguyễn Văn K- sinh năm 1998 ở thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người làm công việc bốc vác hàng thuê cho anh T4 ngồi ở ghế phụ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô trên đường liên xã theo hướng từ thị trấn B đi xã M. Khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường liên xã với đường liên thôn thuộc địa bàn thôn C, xã X, huyện H, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đối với xe chạy liền trước, không làm chủ tốc độ nên phần bánh xe phía trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59 do T điều khiển va chạm với xe đạp do bà Trần Thị H1, sinh năm 1952 ở thôn C, xã X, huyện H điều khiển đi phía trước cùng chiều đang chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả làm bà H1 ngã ra đường bị thương được đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B đến ngày 12/4/2024 thì tử vong.

Sau khi nhận được tin báo, Công an huyện H đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và trưng cầu giám định, kết quả cụ thể như sau:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc địa phận thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Hiện trạng của đường là mặt đường nhựa, nơi có sự giao cắt của đường giao nhau. Lấy chiều hướng đoạn đường liên xã từ hướng thị trấn B đi xã M để xác định bên phải đường (P), bên trái (T) trong mô tả hiện trường, lòng đường liên xã rộng 5,9m; phía bên phải đường là đường đất ruộng dẫn đi cánh đồng thôn C, xã X, vị trí mép đường rộng 3,7m; phía bên trái là đường bê tông dẫn đi thôn C, xã X, vị trí mép đường rộng nhất là 13,7m. Lấy mép phải theo hướng đã chọn làm chuẩn; lấy cột điện 4.16/TBA Cẩm Bào nằm ngoài mép trái đường làm mốc định vị hiện trường. Tại hiện trường phát hiện các phương tiện, dấu vết đánh số thứ tự trên sơ đồ hiện trường gồm: (1) là xe ô tô biển kiểm soát 98C- 285.59, (2) là xe đạp, (3) là dấu vết phanh đôi xe ô tô dài 6,25m và rộng 14cm, (4) là dấu vết màu nâu sẫm loang (nghi máu) trên diện (44x47)cm, (5) là vết trượt đất trên diện (50x26)cm, (6) nón lá.

Xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-285.59 ở trạng thái dừng đỗ hơi chếch từ bên phải đường sang bên trái đường, đầu xe ô tô hơi chếch hướng đi xã M, đuôi xe ô tô hơi chếch hướng đi thị trấn B; xe ô tô nằm trên phần đường nhựa liên xã, khoảng cảnh đo từ tâm trục bánh trước xe ô tô đến mép đường phải là 3m, tâm trục bánh sau đến mép đường phải là 2,5m.

Xe đạp ở trạng thái đổ nghiêng trái và nằm sát mép phải đường vị trí tiếp giáp giữa đường nhựa liên xã giao cắt với đường đất ruộng đi cánh đồng thôn C, đầu xe đạp hơi chếch hướng đi xã M, đuôi xe đạp hơi chếch hướng đi thị trấn B; khoảng cách đo từ tâm trục sau đến mép phải, đến tâm trục sau phải xe ô tô và đo đến mốc định vị lần lượt là 56cm, 1,95m, 35,10m.

Vết phanh đôi xe ô tô dài 6,25m, rộng 14cm, có chiều hướng hơi chếch hướng từ thị trấn B đi xã M, điểm khởi đầu vết phanh nằm ở giữa lòng đường nhựa liên xã cách mép phải đường, cách mép đường bê tông dẫn đi thôn C ở vị trí tiếp giáp gần nhất và cách mốc định vị lần lượt là 3m, 4,2m, 28,3m. Dấu vết màu nâu sẫm loang (nghi máu) trên diện 44cmx47cm nằm sát mép phải đường và sát đầu xe đạp, vị trí gần nhất đo đến mép đường phải là 31cm. Vết trượt đất trên diện 50cmx26cm nằm sát với mép phải đường và tâm trục sau xe đạp, vị trí điểm gần nhất đo với mép phải đường là 16cm. Nón lá nằm ở phía ngoài mép đường nhựa bên phải trên đám cỏ dại mọc tại mương thoát nước, vị trí nón lá cách mép đường bên phải và đầu trục bánh trước bên phải của xe đạp là 1,1m.

Ở hướng thị trấn B nằm sát mép phải đường nhựa liên xã có biển cảnh báo nguy hiểm đường giao nhau (biển 205e) từ chân cột biển báo đến đầu vết phanh đôi xe ô tô là 49,3m.

* Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 98C- 285.59 do Phùng Văn T điều khiển:

Trên thùng xe ô tô phát hiện các thùng hàng gạch men. Ốp kim loại bên phải cụm đèn pha, xi nhan bên phải phía trước phần khóa trên bị đẩy cong áp sát vào đèn, phần mặt ngoài phía trên có dấu vết chà sát sơn trên diện (6x1)cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 95cm. Mặt trước, mép phần đầu cánh cửa bên phải, phần đối diện có dấu vết chà sát, mất sơn diện (6x0,3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 95cm. Mặt ngoài bên phải phía trước đầu thanh kim loại gắn cụm chi tiết gương chiếu hậu có dấu vết chùi sạch bùn đất trên diện (15x3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 28cm. Mặt ngoài ốp nhựa đèn chiếu sang trước bên phải có dấu vết nứt vỡ nhựa, bề mặt có dấu vết mài trượt sạch bụi đất in hằn các đường thẳng song song dạng vân vải kích thước (17x9)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp kim loại bên phải đầu xe có vết lõm mài trượt kim loại trước sau phải trái cách đất 112cm. Tương ứng vị trí tại mặt ngoài cạnh viền ốp kim loại có dấu vết mài trượt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu trên diện 3x0,5cm. Mặt ngoài ốp kim loại la zăng trục bánh trước bên phải có dấu vết lõm, trượt xước kim loại tạo thành hai đường thẳng song song, chiều hướng từ mặt lõm vào tâm trục trên diện (2,5x5,4)cm, điểm gần nhất cách chân van theo hướng ngược chiều kim đồng hồ 11cm. Tương ứng vị trí này tại cạnh ngoài đầu ốc cố định la zăng có dấu vết lõm trượt xước kim loại hướng ngược chiều chuyển động trên diện 1,5x0,2cm. Hệ thống phanh, còi đèn hoạt động bình thường.

* Kết quả khám nghiệm xe đạp do bà Trần Thị Hồng điều k:

Mặt trước đầu trong tay nắm bên trái có dấu chà sát nhựa bám dính chất màu trắng trên diện (2x0,3)cm. Đầu ngoài bàn đạp bên trái có vết xước trên diện (2,5x0,3)cm. Vành bánh xe sau có vết xước kim loại trên diện (4x0,3)cm cách chân van gần nhất 55cm. Ở cạnh đế đầu chân chống có dấu vết lõm, trượt xước kim loại hướng từ sau ra trước. Hệ thống phanh hãm bình thường.

* Kết quả khám nghiệm tử thi bà Trần Thị H1:

- Biến dạng vùng hàm mặt; vùng má trái, môi trên, môi dưới, cằm trái có diện xưng nề, bầm tím, sây sát da, trên diện (10x7)cm. Vùng ngực hai bên có nhiều vết bầm tím da trên diện (33x24) cm. Mặt sau ngoài khuỷu tay, cẳng tay, mu bàn ngón tay phải có nhiều vết bầm tím sưng nề rách da trên diện (36x12)cm. Mặt trước trong 1/3 giữa dưới cẳng tay trái có diện bầm tím da kích thước (11x8)cm. Mặt trước ngoài 1/3 trên đùi phải có diện bầm tím da kích thước (11x10)cm. Mắt trước trong 1/3 giữa dưới của cẳng chân phải có diện bầm tím da kích thước (17x8)cm. Mặt trước đùi trái có nhiều vết bầm tím da trên diện (22x12)cm. Mặt trước trong cẳng chân trái có diện bầm tím da kích thước (18x12) cm. Mặt ngoài chân trái có diện sây sát da bầm tím kích thước (4x3)cm. Kiểm tra thấy gãy đốt sống cổ C3, C4 và cung trước xương sườn số 6,7 bên trái. Mặt sau chân hai bên có nhiều vết tím da. Vùng cổ trái có nhiều vết bầm tím da kích thước (7x4)cm. Vùng thắt lưng trái có diện xây sát da bầm tím kích thước (4x5)cm. Vùng chẩm trái có diện xưng nề bầm tím sây sát da bờ mép sắc gọn sâu sát xương (1,5x0,4)cm.

- Phẫu tích vết rách da vùng chẩm trái thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da cơ, có nhiều máu đông phía dưới vết thương. Thăm dò trong bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực trái có máu không đông lẫn dịch bọt, khoang ổ bụng không thấy máu.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1020/KLGĐTT- KTHS ngày 10/5/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trần Thị H1 do đa chấn thương: Chấn thương ngực kín; gẫy đốt sống cổ C3, C4. Cơ chế hình thành dấu vết, thương tích: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau tạo nên. Trong đó, tổn thương gãy đốt sống cổ C3, C4 và cung trước xương sườn 6, 7 bên trái gây tràn máu khoang lồng ngực do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên là nguyên nhân gây tử vong của bà Trần Thị H1.

Tại Kết luận giám định số 1038/KL- KTHS ngày 14/5/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

- Dấu vết vỡ, mài trượt nhựa, kim loại, in hằn các đường song song ở mặt ngoài ốp nhựa cụm đèn trước bên phải và ốp kim loại bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59 (ảnh 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên.

- Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ ngoài vào tâm trục ở mặt ngoài la zăng lốp bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C- 285.59 (ảnh 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ sau ra trước ở cạnh đế đầu chân chống của xe đạp. Đây là dấu vết va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.

- Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ ngoài vào tâm trục ở cạnh ngoài đầu ốc cố định la zăng lốp bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 285.59 (ảnh 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, khuyết kim loại, hướng ngược chiều chuyển động tiến, từ tâm trục ra mặt lăn ở cạnh bên trái vành bánh sau của xe đạp (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C - 285.59 với xe đạp trên mặt đường qua dấu vết cơ học. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C - 285.59 và xe đạp, trên hai phương tiện không phát hiện dấu vết va chạm với phương tiện khác.

- Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện và trên hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 98C - 285.59 chuyển động theo hướng thị trấn B đi xã M va chạm với xe đạp ở phía trước cùng chiều. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Ngày 11/4/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Phùng Văn T, kết quả đo nồng độ cồn 0.000mg/L, âm tính với ma túy.

Ngày 05/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả Phùng Văn T xác định các vị trí quan sát thấy bà Hồng điều k xe đạp đi phía trước xe ô tô do T điều khiển và vị trí xảy ra va chạm giữa hai phương tiện.

Cáo trạng số 88/CT-VKS-HH ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phùng Văn T từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01(một) nón lá; 01(một) áo dài tay màu xám; 01(một) quần dài hoa màu đỏ; quần áo bám dính chất màu nâu đỏ, bụi đất (đã niêm phong).

Về án phí, áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo T nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, và người làm chứng anh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Xét thấy việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, Phùng Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59 đi trên đường liên xã theo hướng từ thị trấn B đi xã M. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường liên xã và đường liên thôn thuộc địa phận thôn C, xã X, huyện H, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đối với xe chạy liền trước, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại đảm bảo an toàn (vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ trưởng Bộ G), xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe đạp do bà Trần Thị H1, sinh năm 1952 ở thôn C, xã X, huyện H điều khiển đi phía trước cùng chiều đang chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả làm bà H1 tử vong.

Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, các biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, lời khai của nhân chứng, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, kết quả cuộc thẩm vấn tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng người, tài sản của người khác. Hậu quả làm bà H1 tử vong. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự với đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do bị cáo không chấp hành Luật giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đối với xe chạy liền trước, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại đảm bảo an toàn đã gây ra tai nạn cho bà H1, hậu quả bà H1 chết. Tai nạn xảy ra là việc không ai mong muốn, sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng đã động viên, thăm hỏi và bồi thường thỏa đáng đối với gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của UBND xã nơi bị cáo cư trú cũng đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bà H1 số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), đại diện của bị hại anh Nguyễn Ngọc T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác nên không xem xét về trách nhiệm dân sự.

[6] Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01(một) nón lá; 01(một) áo dài tay màu xám; 01(một) quần dài hoa màu đỏ; quần áo bám dính chất màu nâu đỏ, bụi đất (đã niêm phong) không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí, áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Phùng Văn Tài 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 3(ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01(một) nón lá; 01(một) áo dài tay màu xám; 01(một) quần dài hoa màu đỏ; quần áo bám dính chất màu nâu đỏ, bụi đất (đã niêm phong).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sư; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - CQĐT,CQTHAHS Công an huyện Hiệp Hòa;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - UBND xã Hà Hiệu;
  • - UBND xã Song Khê;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đào Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger