TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 92/2024/HNGĐ- ST Ngày 10/6/2024 “V/v: Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tuyết Nhung;
- Bà Nguyễn Thị Tú Oanh;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc- Chức vụ: Kiểm sát viên;
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 210/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Bị đơn: Ông Vương Toản T, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
Địa chỉ: đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Kim L trình bày có nội dung:
Bà Lê Thị Kim L và ông Vương Toản T tự nguyện chung sống với nhau năm 2019, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 15/10/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Quá trình sống chung ông bà có 01 con chung là cháu Vương N, sinh ngày 18/11/2019;
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, do đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa; ông T không chăm lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Kim L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vương Toản T;
Về con chung: Bà Lê Thị Kim L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Vương N, sinh ngày 18/11/2019 đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị Kim L không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Kim L xác định không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Hiện nay bà Lê Thị Kim L là lao động tự do, thu nhập khoảng 10.000.000 đ/tháng;
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông Vương Toản T nhưng ông Vương Toản T vẫn vắng mặt không lý do; do đó Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án, xét thấy: Bà Lê Thị Kim L và ông Vương Toản T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, do đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa; mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay bà Lê Thị Kim L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Vương Toản T là có cơ sở chấp nhận;
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị Kim L về việc ly hôn với ông Vương Toản T;
Về con chung: Giao con chung là Vương N, sinh ngày 18/11/2019 cho bà Lê Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung: Không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Vương Toản T có nơi cư trú tại đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy nguyên đơn bà Lê Thị Kim L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Vương Toản T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Kim L và ông Vương Toản T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân nhau.
Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng bà Lê Thị Kim L và ông Vương Toản T phát sinh đã lâu và kéo dài đến nay; mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó cần chấp nhận nguyện vọng ly hôn của bà Lê Thị Kim L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Về con chung: Cháu Vương N, sinh ngày 18/11/2019 còn nhỏ, hiện đang ở với mẹ; do đó cần giao cháu cho mẹ là bà Lê Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị Kim L không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Vương Toản T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Kim L không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí: Bà Lê Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim L về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Vương Toản T;
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Kim L được ly hôn với ông Vương Toản T;
Về con chung:
Giao con chung là cháu Vương N, sinh ngày 18/11/2019 cho bà Lê Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà Lê Thị Kim L không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Vương Toản T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung:
Bà Lê Thị Kim L không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí:
Bà Lê Thị Kim L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Kim L đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0005395 ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L, bị đơn ông Vương Toản T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Diễm Hương |
Bản án số 92/2024/HNGĐ- ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
