Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/DS-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÉ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hứa Văn Khương

Ông Trần Minh Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm sát viên.

Ngày 10/6/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” thụ lý số 495/2023/TLST-DS, ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2023/QĐST-DS, ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Tạ Thị Hồng Đ, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung T, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền ngày 06/12/2023).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1 (T2), địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện ngày 02/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Tạ Thị Hồng Đ và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung T thống nhất trình bày: Bà Đ làm chủ hụi, ông T1 là hụi viên tham gia dây hụi mùa (03 tháng khui một lần) 5.000.000 đồng, mở ngày 10/02/2013 âm lịch, có 22 phần, ông T1 tham gia 01 phần và đã hốt hụi ở lần mở hụi thứ 7 vào ngày 10/9/2014 âm lịch. Sau khi hốt hụi thì ông T1 đi làm ăn xa nên không đóng hụi chết đầy đủ, chỉ có gửi tiền về đóng hụi 01 lần được 4.500.000 đồng; đến tháng 02/2021 ông T1 trở về có xin trả dần mỗi tháng ít nhất 1.000.000 đồng, nhưng chỉ trả được 02 lần, lần 1 ngày 30/3/2021 trả 1.000.000 đồng và lần 2 ngày 30/4/2021 trả 500.000 đồng, rồi ngưng luôn cho đến nay. Như vậy, nếu tính từ ngày hốt hụi thì ông T1 còn phải đóng hụi chết cho chủ hụi 15 lần bằng số tiền 75.000.000 đồng, nhưng ông T1 chỉ đóng được 6.000.000 đồng, nên còn nợ lại 69.000.000 đồng.

Trong đơn khởi kiện ban đầu, bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1 trả số tiền 69.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 10/02/2015 đến khi giải quyết xong vụ án, nhưng tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn thay đổi mốc thời gian tính lãi từ ngày 01/5/2021 đến ngày xét xử theo mức lãi suất pháp luật quy định.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không có ý kiến trả lời, cũng không đến Tòa án để cung cấp lời khai và tham gia các phiên họp, hòa giải.

Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện (đã thay đổi) của nguyên đơn để buộc bị đơn trả số tiền hụi còn nợ là 69.000.000 đồng và tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 01/5/2021 đến ngày xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

[1] Ông Nguyễn Thanh T1 là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét về hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng góp hụi giữa các bên đương sự thấy rằng cả bà Đ và ông T1 đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng góp hụi giữa các đương sự là hợp pháp.

[3] Đối với phía bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, nhưng ông T1 không có ý kiến trả lời. Tòa án có xác minh một số người cùng tham gia các dây hụi chung với ông T1 được biết ông T1 có tham gia dây hụi do bà Đ làm chủ hụi nêu trên và đã hốt hụi xong là có thật; mặt khác, ông T1 không đến Tòa án để cung cấp lời khai và tham gia các phiên họp hòa giải, xét xử thì được coi là ông Thư từ b quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Xét về lỗi: Ông T1 là người có lỗi, vì đã vi phạm nghĩa vụ không đóng tiền góp hụi cho chủ hụi là bà Đ, nhưng bà Đ vẫn duy trì được dây hụi đến thời gian mãn; chính việc vi phạm nghĩa vụ của ông T1 đã gây thiệt thòi đến quyền lợi của bà Đ, nên việc bà Đ khởi kiện là có căn cứ.

[5] Đối với việc thay đổi yêu cầu giảm bớt thời gian tính lãi của nguyên đơn tại phiên tòa; xét thấy việc thay đổi này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu và theo hướng có lợi cho bị đơn, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc tính tiền lãi theo mức lãi suất pháp luật quy định là có cơ sở nên được chấp nhận. Cụ thể tiền lãi của số tiền 69.000.000 đồng từ ngày 01/5/2021 đến ngày xét xử (ngày 10/6/2024) là 37 tháng 09 ngày, mức lãi suất 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng), bằng số tiền là 21.361.710 đồng (69.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 37 tháng 09 ngày).

[7] Từ phân tích trên, có căn cứ xác định ông T1 còn nợ bà Đ tiền hụi 69.000.000 đồng và tiền lãi 21.361.710 đồng, tổng cộng là 90.361.710 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc ông T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đ số tiền này theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự, Điều 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ và Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[8] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 244, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 468 và 471 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 25 và 27 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, và Điều 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Tạ Thị Hồng Đ số tiền hụi còn nợ 69.000.000 đồng và tiền lãi 21.361.710 đồng, tổng cộng là 90.361.710 (chín mươi triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm mười) đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:
    1. Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí số tiền 4.518.000 (bốn triệu năm trăm mười tám nghìn) đồng.
    2. Tạ Thị Hồng Đ không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp 1.725.000 (một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001068 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kế Sách;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 92/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Đ yêu cầu ông T1 trả nợ hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger