Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 9 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Út
  2. Ông Lê Huỳnh Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 353/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hồ Anh T, sinh năm 1976; Có mặt.

Nơi cư trú: Số D đường H, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu T1, sinh năm 1985; Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số D đường H, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Hồ Anh T trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Thu T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận, hôn nhân là tự nguyện. Ông và bà T1 có 04 con

2

chung tên là Hồ Đoan Bảo N, sinh năm 2004 (đã trưởng thành), Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013. Hiện ông đang đi làm công trình, chỗ ở không ổn định. Thu nhập của ông khoảng 12.000.000 đồng/tháng.

Quá trình chung sống, ông và bà Phạm Thị Thu T1 không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông là người đi làm còn bà T1 ở nhà nội trợ nhưng bà T1 không tôn trọng chồng, thường xuyên chì chiếc chửi mắng ông, có gì không vừa ý là đập phá đồ đạc, trong nhà còn hỗn với cha mẹ chồng, nói tục trước mặt các con, xem thường ông nhiều lần, thường xuyên so sánh làm mất mặt ông, còn hay ghen tuông vô cớ làm cho ông bị áp lực vô cùng, nhiều khi đi làm về nhà không muốn về nhà phải chạy đi lòng vòng. Không thể chịu nổi nữa nên từ cuối năm 2023 đến nay, ông và bà Phạm Thị Thu T1 đã không còn chung sống với nhau, ông đi làm công trình và ở lại công trình luôn chứ không về nhà. Nay tình cảm không còn, không thể quay trở về đoàn tụ nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

Nếu ly hôn, ông yêu cầu giao 03 con chung chưa thành niên là Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013 cho bà T1 trực tiếp nuôi con chung. Ông đồng ý cấp dưỡng cho mỗi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn bà Phạm Thị Thu T1 trình bày:

Bà và ông H anh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận. Bà và ông T có 04 con chung tên là Hồ Đoan Bảo N, sinh năm 2004 (đã trưởng thành), Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013. Hiện bà đang đi làm thuê, thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần về vấn đề tiền bạc. Từ cuối năm 2023, ông T bỏ nhà đi một thời gian, ngoài ra ông T còn ngoại tình mà quay về còn ly hôn với bà. Từ cuối năm 2023 ông T bỏ đi đến nay, bà vẫn quan tâm gọi điện hỏi han chồng nhưng ông T không quan tâm đến cảm xúc của bà và bỏ mặc bà cho đến nay. Hiện ông T đã chặn số điện thoại nên bà không liên lạc được với ông T. Bà không đồng ý ly hôn với ông T do bà còn tình cảm với ông T và mong muốn các con có cha.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:

3

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn có mặt trong quá trình chuẩn bị xét xử, vắng mặt tại phiên tòa.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ông Hồ Anh T ly hôn với bà Phạm Thị Thu T1. Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Thu T1 có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi ba con chung chưa thành niên là Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013. Ông Hồ Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ông Hồ Anh T yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị Thu T1. Bà T1 cư trú tại Khu phố E, phường P, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà T1. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn bà T1 tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa ông Hồ Anh T và bà Phạm Thị Thu T1 là hoàn toàn tự nguyện, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Quá trình chung sống, ông T cho rằng ông và bà Phạm Thị Thu T1 không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông là người đi làm còn bà T1 ở nhà nội trợ nhưng bà T1 không tôn trọng chồng, thường xuyên chì chiếc chửi mắng ông, có gì không vừa ý là đập phá đồ đạc, trong nhà còn hỗn với cha mẹ chồng, nói tục trước mặt các con, còn hay ghen tuông vô cớ làm cho ông bị áp lực vô cùng. Không thể chịu nổi nữa nên từ cuối năm 2023 đến nay, ông và bà Phạm Thị Thu T1 đã không còn chung sống với nhau. Bà T1 cho rằng: từ cuối năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều lần về vấn đề tiền bạc, sau đó, ông T bỏ nhà đi,

4

bà vẫn quan tâm gọi điện hỏi han chồng nhưng ông T không quan tâm đến cảm xúc của bà và bỏ mặc bà cho đến nay.

Tại biên bản xác minh ngày 13/8/2024, chính quyền địa phương xác định: tình trạng hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thu T1 và ông Hồ Anh T có mâu thuẫn không thì địa phương không rõ vì vợ chồng bà T1, ông T không báo cho địa phương hòa giải. Hiện nay, bà T1, ông T không còn sống chung với nhau từ khoảng đầu năm 2024 đến nay.

Tuy về mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị Thu T1 và ông Hồ Anh T chính quyền địa phương không rõ nhưng cả ông Hồ Anh T, bà Phạm Thị Thu T1 đều xác định quá trình chung sống, vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến hiện bà T1 và ông T đã không còn chung sống với nhau. Chính quyền địa phương cũng xác định: bà T1 và ông T đang sống ly thân. Tại phiên tòa, ông T xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với bà T1 nữa, nếu quay về chung sống thì cũng không hạnh phúc, mâu thuẫn sẽ ngày một trầm trọng hơn nên ông yêu cầu ly hôn với bà T1.

[2.3] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông T, bà T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho ông T ly hôn với bà T1.

[3] Về nuôi con chung:

[3.1] Ông T và bà T1 đều xác định có 04 người con chung tên là Hồ Đoan Bảo N, sinh năm 2004 (đã trưởng thành), Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013. Các con chung đang sống cùng bà T1.

[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ông T, bà T1 sống ly thân, các con chung đều do bà T1 trực tiếp chăm sóc. Nguyện vọng của cháu N1, cháu P là được sống cùng bà T1. Mặt khác, công việc của ông T không có chỗ ở ổn định, khó chăm sóc cho các con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, giao ba con chung chưa thành niên là Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013 cho bà T1 trực tiếp nuôi con. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con chung là 1.500.000 đồng.

[4] Đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy

5

ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Anh T đối với bị đơn bà Phạm Thị Thu T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Anh T được ly hôn với bà Phạm Thị Thu T1.

2. Về nuôi con chung:

Giao cho bà Phạm Thị Thu T1 có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ba con chung là Hồ Đoan Bảo T2, sinh ngày 21/02/2007; Hồ Đoan Bảo N1, sinh ngày 25/01/2010; Hồ Hưng P, sinh ngày 04/8/2013.

Ông Hồ Anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Ông Hồ Anh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Toà án số 0002788 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Hồ Anh T còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

6

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29-9-2024); vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang- Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang- Tháp Chàm;
  • - UBND Phủ Hà, PR-TC;
  • (GCN số 18, ngày 17/02/2003)
  • - Lưu (HS, AV)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trương Trần Thanh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger