TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-8-2024 V/v: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Chinh.
- Ông Võ Chí Sĩ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 350/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thanh X - sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ H, ấp D, xã P, huyện C, Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ H, ấp D, xã P, huyện C, Đồng Tháp.
- (Tất cả các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 16/01/2024, và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thanh X trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận kết hôn số 178, quyển số 01 cấp tháng 11 năm 2005.
Sau thời gian chung sống hạnh phúc, chị và anh T1 có với nhau được 03 người con chung. Thời gian sau này, anh T1 thay đổi, không chú tâm làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm cho gia đình. Chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 không sửa đổi.
Trước đây, chị đã có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết, các con đã khuyên ngăn nên chị rút đơn về để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.
- - Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Ngọc T2 - sinh ngày 04/6/2005, Lê Thị Bích N - sinh ngày 27/12/2006, Lê Hoàng V - sinh ngày 29/11/2008, các con chung đang sống cùng với vợ chồng. Khi ly hôn, chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Lê Thị Bích N và Lê Hoàng V, chị X không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Lê Thị Ngọc T2 đã trưởng thành nên chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
* Bị đơn Lê Văn T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T1.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn giao nộp bao gồm: Giấy CCCD Lê Thanh X và Lê Văn T1 (photo), Bản sao Trích lục kết hôn, 03 bản sao giấy khai sinh con chung, Đơn xin xét xử vắng mặt (bản chính). Ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn, nuôi con chung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Lê Văn T1 hiện đang cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn anh Lê Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Lê Thanh X có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ
Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị X và anh T1.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của chị Lê Thanh X về việc xin ly hôn với anh Lê Văn T1 và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận định:
[5] Căn cứ Bản sao trích lục kết hôn số 769/2023/TLKH-BS, ngày 18/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã thể hiện chị Lê Thanh X và anh Lê Văn T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 18/11/2005, như vậy đã có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân của chị X và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giải thích, hòa giải, động viên đương sự đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, chị X cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng cũng không còn, không thể đoàn tụ được; do đó, chị X giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Đối với bị đơn anh Lê Văn T1 đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng anh T1 không tham dự, chứng tỏ anh T1 đã bỏ mặc và không còn quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với chị X.
[7] Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh T1 có tồn tại mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không đạt được mục đích như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của chị X về việc xin ly hôn với anh T1 là có cơ sở nên chấp nhận.
[8] Về con chung: Chị X xác định giữa chị và anh T1 có 03 con chung tên Lê Thị Ngọc T2 - sinh ngày 04/6/2005, Lê Thị Bích N - sinh ngày 27/12/2006, Lê Hoàng V - sinh ngày 29/11/2008. Đối với con chung Lê Thị Ngọc T2 đã trưởng thành nên chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung Lê Thị Bích N và Lê Hoàng V thì chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng; xét thấy, các con chung Lê Thị Bích N và Lê Hoàng V vẫn đang sống chung với chị X và anh T1, được đảm bảo cuộc sống ổn định về tinh thần lẫn vật chất, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Ngoài ra các con chung có nguyện vọng sống với chị X khi vợ chồng ly hôn. Bởi lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị X; giao các con chung Lê Thị Bích N - sinh ngày 27/12/2006 và Lê Hoàng V - sinh ngày 29/11/2008 cho chị Lê Thanh X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Văn T1 có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị X không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng như nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Lê Thanh X phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thanh X.
- Về hôn nhân: Chị Lê Thanh X được ly hôn với anh Lê Văn T1.
- Về con chung: Giao con chung Lê Thị Bích N - sinh ngày 27/12/2006, Lê Hoàng V - sinh ngày 29/11/2008 cho chị Lê Thanh X được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị X xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thanh X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp theo biên lai thu số 0008485 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị Lê Thanh X đã nộp xong án phí.
- Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Chị Lê Thanh Xuân được ly hôn với anh Lê Văn Tuấn. 2. Về con chung: Giao con chung Lê Thị Bích Ngọc - sinh ngày 27/12/2006, Lê Hoàng Vũ - sinh ngày 29/11/2008 cho chị Lê Thanh Xuân được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn Tuấn không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Xuân không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Xuân xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
