TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG TỈNH A Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-7-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG, TỈNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Gi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công D
- Ông Trần Văn Đ
- Thư ký phiên tòa:
Ông Cao Chánh N, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CG, tỉnh A.
Trong ngày 08 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CG xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1987; Cư trú: ấp M, xã P, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Phạm Tuấn D (Phạm Tuấn V), sinh năm 1986; Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Lê Thị Thu H và lời trình bày trong quá trình giải quyết, nội dung vụ án như sau:
Sau khi tìm hiểu và quen biết, ngày 04/6/2018 bà và ông D có thực hiện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2018 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh A cấp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại ấp L, xã P, huyện C, tỉnh A. Sau thời gian dài chung sống thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến việc vợ chồng hay cãi vã. Mặc dù bà và ông D đã nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không có kết quả. Đến đầu năm 2023, cả hai quyết định sống ly thân, bà thì ở tại địa chỉ ấp M, xã P còn ông D thì vẫn ở tại địa chỉ ấp L, xã P. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.
Bà và ông D có 03 con chung tên Phạm Thị Ngọc Tiên s ngày 03/4/2018, Phạm Khánh H1 sinh ngày 29/8/2008 và Phạm Thanh D1 sinh ngày 22/7/2013. Hiện nay cháu D1 đang ở với cha là ông Phạm Tuấn D còn hai cháu T, H1 đang ở với bà. Nay để đảm bảo sự ổn định cho cuộc sống của các con nên bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và H1. Giao cho ông D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D1. Bà không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông D có tên trong giấy khai sinh là Phạm Tuấn D. Tuy nhiên khi làm chứng minh nhân dân thì bị sai sót thành tên Phạm Tuấn V, do đó khi bà và ông D đăng ký kết hôn thì sử dụng tên là Phạm Tuấn V và khai sinh con cũng tên là Phạm Tuấn V. Sau khi làm Căn cước công dân thì ông D có cải chính lại là Phạm Tuấn D cho đúng với giấy khai sinh.
Bị đơn ông Phạm Tuấn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của bà H. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được nên đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Lê Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Tuấn D, hiện ông D đang cư trú tại ấp L, xã P, huyện C, tỉnh A nên Tòa án nhân dân huyện CG, tỉnh A thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Phạm Tuấn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, bà Lê Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà H và ông D.
[2] Về hôn nhân: bà Lê Thị Thu H kết hôn với ông Phạm Tuấn D, thực hiện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2018 ngày 04/6/2018 nên xác định hôn nhân giữa bà H và ông D là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà H cho rằng thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến việc hay cãi vã. Đầu năm 2023, cả hai quyết định sống ly thân, bà thì ở tại địa chỉ ấp M, xã P còn ông D thì vẫn ở tại địa chỉ ấp L, xã P. Mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo ông D tham gia hòa giải nhưng ông D không tham dự cho thấy rằng ông D không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm cũng như duy trì đời sống chung vợ chồng, còn bà H thì cương quyết ly hôn. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông D không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho bà H được ly hôn với ông D.
Theo lời khai của bà H, các chứng cứ bà H cung cấp và văn bản xác nhận của Công an xã P, ông Phạm Tuấn V tên trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và tên cha trên giấy khai sinh các con thì đã được cải chính là tên Phạm Tuấn D theo căn cước công dân.
[3] Về con chung: Bà H và ông D xác định vợ chồng có 03 con chung tên Phạm Thị Ngọc Tiên s ngày 03/4/2018, Phạm Khánh H1 sinh ngày 29/8/2008 và Phạm Thanh D1 sinh ngày 22/7/2013. Bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T, cháu H1, giao cho ông D tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu D1.
Xét thấy con chung tên Phạm Thị Ngọc T1, Phạm Khánh H1 hiện bà H đang chăm sóc nuôi dưỡng còn Phạm Thanh D1 hiện ông D đang chăm sóc nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống ổn định và theo nguyện vọng của cháu H1 muốn sống với mẹ, cháu D1 muốn sống với cha nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Phạm Thị Ngọc Tiên s ngày 03/4/2018, Phạm Khánh H1 sinh ngày 29/8/2008 cho bà H nuôi dưỡng. Giao con chung tên Phạm Thanh D1 sinh ngày 22/7/2013 cho ông D nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: bà H và ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: bà H xác định không có, ông D không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: bà H là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông D nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H về việc yêu cầu ly hôn với ông Phạm Tuấn D.
[1] Về hôn nhân: bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Tuấn D.
[2] Về con chung: bà Lê Thị Thu H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Ngọc Tiên s ngày 03/4/2018, Phạm Khánh H1 sinh ngày 29/8/2008. Ông Phạm Tuấn D tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thanh D1 sinh ngày 22/7/2013.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về án phí: bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu số 0011172 ngày 06/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện CG, tỉnh A chuyển sang án phí sung công quỹ nhà nước.
[4] Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Gi |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG, TỈNH A về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG, TỈNH A
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
