Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 07-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Việt

Bà Đỗ Thị Lài

Ông Nguyễn Ngọc Cang

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2024/HSST ngày 19/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/HSST-QĐ ngày 24/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Minh V, sinh năm 1991 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Ngư dân; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Minh Đ, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1972; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; Vợ: Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1993; Có 02 (hai) người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt ngày 30/12/2023, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

2. Đào Văn K, sinh năm 1992 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm H, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Ngư dân; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn Q, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1962; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 4 anh chị em; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Ủy ban nhân dân thành phố C có Quyết định số 647/QĐ-UBND ngày 03/7/2007 về việc đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • Bản án số 161/2010/HSST ngày 09/11/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bị cáo chưa đóng án phí hình sự; tuy nhiên khi phạm tội ngày 07/4/2010, bị cáo 17 tuổi 6 tháng 29 ngày nên được coi không có án tích).

Bị bắt ngày 30/12/2023, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

3. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Ngư dân; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 và bà Hồng Thị Y, sinh năm 1975; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 2 anh em; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt ngày 30/12/2023, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

  • Người bào chữa cho các bị cáo V, K và H1: Ông Nguyễn Văn C1 – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
  • Bị hại: Ông Trần Công D1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 25/12/2023, tại quán Karaoke "4 You” ở Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xảy ra mâu thuẫn cãi nhau giữa Trần Công D1 (sinh năm 1987) là khách đến hát với nhân viên của quán về hóa đơn tính tiền. Lúc này, Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 cũng là khách từ trong quán ra về. Thấy V nhìn mình nên D1 hỏi “mày nhìn gì, mày có bảo kê quán này không?”. V trả lời mình chỉ là khách rồi cùng K, D1 đi ra trước quán để đón xe. Do bực tức vì thái độ của D1 nên V rủ K, H1 đánh D1 thì K, H1 đồng ý. K nhặt 01 cục gạch kích thước 06 x 14 x 03 cm bỏ vào trong áo khoác cột lại để làm hung khí; Hoàng nhặt đoạn gỗ dài 120cm, đường kính 07cm ở vỉa hè làm hung khí. Khi D1 vừa đi ra thì K, H1 cầm hung khí đánh nhiều phát vào vùng đầu, mặt, lưng của D1; còn V dùng tay đánh D1. Mặc dù có người can ngăn nhưng K, H1, V vẫn vật D1 ngã ra đường rồi đè lên người D1 đánh tiếp. Vài phút sau, được nhiều người đến can ngăn nên D1 đứng dậy đi vào vỉa hè gọi điện thoại cho người thân. Vũ nghĩ D1 gọi cho bạn bè đến đánh trả thù nên nhặt 01 viên gạch bê tông hình số 8, kích thước khoảng 39 x 19 x 8 cm ở gần đó đánh nhiều phát vào đầu, lưng của D1. Sau đó, V, H1, K ra về; trên đường đi, H1, K vứt bỏ hung khí trên đường. D1 được mọi người đưa đến Trung tâm y tế Q1 để cấp cứu, sau đó chuyển về Bệnh viện B để điều trị do bị chấn thương sọ não.

Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng; sau đó khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Minh V, Đào Văn K, Nguyễn Văn H1 về tội “Giết người” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 531 ngày 28/12/2023 và Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 67 ngày 01/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B đối với Trần Công D1 xác định:

“a. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

  • + 01 sẹo hỗn hợp vùng mặt (Sẹo vết thương và phẫu thuật mở rộng).
  • + 01 sẹo nhỏ vùng mặt (Sẹo vùng cánh mũi).
  • + 01 (một) sẹo trung bình vùng đầu.
  • + 01 sẹo nhỏ vùng đầu (Sẹo dẫn lưu).
  • + Đã phẫu thuật gặm sọ lõm (Dập nhu mô não thuỳ trán trái. Vỡ lún sọ trán trái) hiện còn ổ tổn thương não cũ thuỳ trán trái, chưa bất thường về tâm thần kinh.

- Kết quả cận lâm sàng:

  • + Gãy thân xương bả vai trái.
  • + Tổn thương não cũ trán trái kích thước 21mm x 23 mm.
  • + Khuyết xương sọ trán trái kích d# 22mm.
  • + Chưa ghi nhận hình ảnh sóng hoặc phức hợp gai sóng kiểu động kinh tại thời điểm ghi điện não đồ.

b. Kết luận:

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/20219 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương vết thương của Trần Công D1 tại thời điểm giám định là: 59% (Năm mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Các thương tích của nạn nhân khả năng được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trên xuống dưới và từ trước ra sau”.

Tại Kết luận giám định số 1046 ngày 14/03/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại TP HCM xác định: “Các chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường vụ án (mẫu đất cát trên đường T và mẫu đất cát thu trên mảnh vỡ viên gạch bê tông hình số 8) là máu người. Phân tích ADN từ các mẫu máu này được cùng một kiểu Gen nam giới và trùng với kiểu gen của Trần Công D1”.

Quá trình điều tra, các bị cáo V, K, H1 đã khai nhận hành vi của bản thân, chỉ dẫn hiện trường vụ án và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đánh giá diễn biến sự việc, tính chất hành vi do các bị cáo thực hiện, nhận thấy: Giữa các bị cáo V, K, H1 với bị hại D1 không quen biết nhau và không có mâu thuẫn từ trước; chỉ vì bực tức trước câu câu hỏi có tính gây sự của D1 mà V, K, H1 thống nhất cùng nhau chuẩn bị hung khí nguy hiểm (gạch, cây gỗ) tấn công quyết liệt vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của D1 gây dập nhu mô não thuỳ trán trái, vỡ lún sọ trán trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể 59% cho thấy hành vi của V, K, H1 có tính chất côn đồ hung hãn với lỗi cố ý xâm phạm tính mạng con người; việc nạn nhân không chết là do được mọi người can ngăn và đưa đi cứu chữa kịp thời. Do đó, hành vi của các bị cáo V, K, H1 đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

* Vật chứng:

  • 01 đôi dép dạng xỏ ngón bằng cao su, màu đen;
  • 01 mũ bảo hiểm màu xanh – đỏ, viền màu vàng, bên trên có in chữ MAILINH Corporation;
  • 01 cây gỗ có chiều dài 1,2m, đường kính 07cm;
  • 01 viên gạch, được đúc bằng bê tông, hình dạng số 8, có kích thước 39cm x 19cm x 8cm, đã bị vỡ thành 5 phần có các kích thước khác nhau, trên có dính chất màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 áo khoác màu đen, sau lưng thêu chữ Fend Roma do Đào Văn K giao nộp.

Toàn bộ vật chứng đã chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh quản lý.

Quá trình điều tra cũng thu giữ 01 đoạn video trích xuất từ Camera của quán Karaoke "4 you” ghi lại diễn biến vụ án. Đã lưu trữ trong 01 đĩa DVD màu vàng, có chữ “Maxell”, được niêm phong và chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Giải quyết phần dân sự:

Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn Ô (tài công) và các bị cáo V, H1, K cùng gia đình đã bồi thường cho bị hại Danh số tiền 45 triệu đồng. Bị hại D1 có đơn xin bãi nại cho các bị cáo.

2. Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSBRVT-P2 ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa sơ thẩm:

3.1. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Các bị cáo Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh V từ 09 đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

Xử phạt bị cáo Đào Văn K từ 09 đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 09 đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại xác nhận là gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng); bị hại đã bãi nại cho các bị cáo. Tại toà các bị cáo và bị hại thống nhất bồi thường thêm 85.000.000₫ nên buộc các bị cáo bồi thường cho bị hại 85.000.000 đồng (T mươi lăm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

  • 01 đôi dép dạng xỏ ngón bằng cao su, màu đen;
  • 01 mũ bảo hiểm màu xanh – đỏ, viền màu vàng, bên trên có in chữ MAILINH Corporation;
  • 01 cây gỗ có chiều dài 1,2m, đường kính 07cm;
  • 01 viên gạch, được đúc bằng bê tông, hình dạng số 8, có kích thước 39cm x 19cm x 8cm, đã bị vỡ thành 5 phần có các kích thước khác nhau, trên có dính chất màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 áo khoác màu đen, sau lưng thêu chữ Fend Roma do Đào Văn K giao nộp.

3.2. Luật sư Nguyễn Văn C1 phát biểu quan điểm bào chữa cho các bị cáo:

Về tội danh: Không ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố;

Về hình phạt: Nhất trí với những tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo V: nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không biết chữ, nhận thức hạn chế; đồng thời người bị hại cũng có một phần lỗi; bên cạnh đó bị cáo còn có con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Đối với bị cáo K: trình độ học vấn thấp, nhận thức hạn chế nên không hiểu pháp luật, bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo H1 nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; nhận thức còn hạn chế, đã biết lỗi của mình; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo mức án từ 7 đến 8 năm tù.

3.3. Các bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư và không ý kiến gì bổ sung.

3.4. Ý kiến bị hại Trần Công D1: Bị hại xin giảm án cho cả 03 bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của các bị cáo, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Khoảng hơn 02 giờ ngày 25/12/2023, trước khu vực quán K2 "4 Y" ở Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỉ vì bực tức trước câu câu hỏi có tính chất gây sự của Trần Công D1 mà Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 thống nhất cùng nhau chuẩn bị hung khí nguy hiểm (gạch, cây gỗ) tấn công quyết liệt vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của D1 gây dập nhu mô não thuỳ trán trái, vỡ lún sọ trán trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể 59%.

Từ diễn biến hành vi của các bị cáo và kết luận giám định, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết các bị cáo V, K, H1 đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Trần Công D1. Hành vi của V, K, H1 có tính chất côn đồ hung hãn với lỗi cố ý xâm phạm tính mạng nạn nhân, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Do đó, cần có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Nhân thân: bị cáo Đào Văn K có nhân thân xấu từng bị áp dụng quyết định đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông Nguyễn Văn Ô (tài công) và các bị cáo V, Hoàng K1 cùng gia đình đã bồi thường cho bị hại Danh số tiền 65 triệu đồng; bị hại D1 có đơn xin bãi nại cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và các bị cáo thống nhất bồi thường thêm 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng); mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường bằng nhau nên ghi nhận; buộc mỗi bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 28.333.000 đồng (Hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

[6] Về xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

  • 01 đôi dép dạng xỏ ngón bằng cao su, màu đen;
  • 01 mũ bảo hiểm màu xanh – đỏ, viền màu vàng, bên trên có in chữ MAILINH Corporation;
  • 01 cây gỗ có chiều dài 1,2m, đường kính 07cm;
  • 01 viên gạch, được đúc bằng bê tông, hình dạng số 8, có kích thước 39cm x 19cm x 8cm, đã bị vỡ thành 5 phần có các kích thước khác nhau, trên có dính chất màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 áo khoác màu đen, sau lưng thêu chữ Fend Roma do Đào Văn K giao nộp.

[7] Về án phí sơ thẩm:

- Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Mỗi bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.416.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phạm Minh V 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

Xử phạt: bị cáo Đào Văn K 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H1 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/12/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo bồi thường cho bị hại 85.000.000 đồng (T mươi lăm triệu đồng); trong đó mỗi bị cáo bồi thường 28.333.000 đồng (Hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiêu hủy:

  • 01 đôi dép dạng xỏ ngón bằng cao su, màu đen;
  • 01 mũ bảo hiểm màu xanh – đỏ, viền màu vàng, bên trên có in chữ MAILINH Corporation;
  • 01 cây gỗ có chiều dài 1,2m, đường kính 07cm;
  • 01 viên gạch, được đúc bằng bê tông, hình dạng số 8, có kích thước 39cm x 19cm x 8cm, đã bị vỡ thành 5 phần có các kích thước khác nhau, trên có dính chất màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 áo khoác màu đen, sau lưng thêu chữ Fend Roma do Đào Văn K giao nộp.

(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 76/BB-CTHADS ngày 10/6/2024).

4. Về án phí sơ thẩm:

  • Các bị cáo Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  • Các bị cáo Phạm Minh V, Đào Văn K và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.416.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh V và đồng phạm Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger