|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tăng Văn Thành.
- Ông Trần Hoàng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 194/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lý H; Sinh năm: 1981. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ liên hệ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Châu Thị Thanh N; Sinh năm: 1984. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lý H trình bày:
Về hôn nhân: Ông Lý H và bà Châu Thị Thanh N kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 009, quyển số 01, ngày 03/3/2006. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông Lý H và bà N đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay ông Lý H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà Châu Thị Thanh N không còn, nên ông Lý H yêu cầu ly hôn với bà Châu Thị Thanh N; Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Lý H và bà N có 01 người con chung là Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007. Hiện nay, cháu H1 đang sống với mẹ là bà Châu Thị Thanh N. ông Lý H yêu cầu giao con chung là cháu Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007 cho bà Châu Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, ông Lý H đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật cho đến khi thành niên; Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống ông Lý H và bà N có tài sản chung, nhưng tự thỏa thuận, nên ông Lý H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, nên ông Lý H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là bà Châu Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, bà Châu Thị Thanh N không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Châu Thị Thanh N.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007 cho bà N nuôi dưỡng đến khi thành niên, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông Lý H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Châu Thị Thanh N là bị đơn trong vụ án, bà Châu Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Châu Thị Thanh N.
Đối với nguyên đơn ông Lý H đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý H.
[2] Về nội dung vụ án:
- [2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Lý H và bà Châu Thị Thanh N là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không tìm giải pháp bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lý H yêu cầu được ly hôn với bà Châu Thị Thanh N là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông Lý H. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông Lý H được ly hôn với bà Châu Thị Thanh N.
- [2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông Lý H và bà Châu Thị Thanh N có 01 người con chung tên là Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007. Hiện nay, cháu Lý Jong H1 đang sống chung với bà Châu Thị Thanh N. Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Lý H yêu cầu giao con chung là Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007 cho bà N nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông H sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn là bà Châu Thị Thanh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của ông Lý H, nhưng bà Châu Thị Thanh N không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của ông Lý H. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ông Lý H và bà Châu Thị Thanh N sống ly thân cho đến nay thì cháu Lý Jong H1 sống chung với bà Châu Thị Thanh N. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007 cho bà N nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà N không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật hiện hành mỗi tháng là 1.725.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông H. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông H, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lý H không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lý H phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng, tổng cộng ông H phải chịu án phí là 600.000 đồng; Bà Châu Thị Thanh N không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý H.
- 1. Về hôn nhân: Xử cho ông Lý H được ly hôn với bà Châu Thị Thanh N.
- 2. Về con chung: Giao cháu Lý Jong H1, sinh ngày 01/01/2007 cho bà Châu Thị Thanh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lý Jong H1 thành niên. Ông Lý H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Jong H1 mỗi tháng là 1.725.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng), do bà Châu Thị Thanh N đại diện nhận tiền cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (06/9/2024 DL) cho đến khi cháu Lý Jong H1 thành niên, phương thức cấp dưỡng là cấp dưỡng hàng tháng. Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông H, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lý H không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lý H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tổng cộng ông H phải chịu án phí là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng ông H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004290 ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông H còn phải nộp thêm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Bà Châu Thị Thanh N không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Ông Lý H và bà Châu Thị Thanh N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuyên |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Lý h yêu cầu ly hôn với bà Châu Thị Thanh N
