Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 92/2024/HS-PT

Ngày 02-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc

Ông Đào Trọng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/HSPT ngày 06/6/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Lệ T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1994 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Đường số A, thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1971 và bà Lê Thị B, sinh năm 1974; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có năm chị em; Chồng Lê Thanh C, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/11/2023; bị cáo đang bị tạm giam, tại Nhà tạm giam, tạm giữ Công an huyện L (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phan Phùng Hải M, Nguyễn Hải H và người làm chứng nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 12/9/2022 đến ngày 31/10/2022, Nguyễn Thị Lệ T biết được nhiều công nhân có nhu cầu làm giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội để làm hồ sơ, thủ tục nộp cho công ty thanh toán bảo hiểm mỗi khi ốm đau, nghỉ phép mà không bị trừ lương hoặc buộc thôi việc. T lập tài khoản facebook tên “Khả Doanh” và tài khoản Zalo trên điện thoại di động truy cập trang mạng xã hội biết Phan Phùng Hải M có bán các loại giấy tờ giả trên nên liên hệ với M đặt mua. Sau đó, T dùng tài khoản facebook, Zalo đăng bán lại cho những người có nhu cầu với giá 90.000 đồng – 220.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội nhằm hưởng tiền chênh lệch 40.000 đồng – 170.000 đồng/01 ngày/giấy; giấy khám sức khỏe T bán lại hưởng chênh lệch khoảng 20.000 đồng/giấy so với giá M bán ra. Còn Nguyễn Hải H thông qua T đặt mua giấy chứng nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội rồi bán lại cho những người có nhu cầu với giá 150.000 đồng – 170.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy nhằm hưởng chênh lệch từ 60.000 đồng - 80.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy so với giá mua lại của T. Việc T, H liên hệ, giao dịch các giấy tờ giả, thanh toán tiền với những người có nhu cầu và M được thực hiện giao dịch trực tiếp hoặc thông qua shipper, thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng.

Với phương thức, thủ đoạn như trên, H đã liên hệ T đặt mua 05 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả của M với giá 90.000 đồng/01 ngày nghỉ rồi bán lại cho 05 công nhân làm trong Công ty TNHH Đ thuộc khu công nghiệp Đ, thành phố V, để hưởng chênh lệch số tiền 700.000 đồng.

T tiếp tục liên hệ đặt mua của M 17 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội với giá 50.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy rồi bán lại với giá 120.000 đồng – 220.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy cho 14 công nhân làm việc tại Công ty TNHH Đ thuộc khu công nghiệp H để hưởng tiền chênh lệch.

Sau khi mua được các giấy chứng nhận, 19 công nhân trên mang đến nộp cho Công ty Đ để làm thủ tục thanh toán bảo hiểm. Quá trình kiểm tra, Bảo hiểm xã hội tỉnh phát hiện các giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội là giả nên không làm thủ tục thanh toán, sau đó giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, Phan Phùng Hải M, Nguyễn Thị Lệ T và Nguyễn Hải H đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Đồng thời, xác định số tiền thu lợi bất chính: M thu lợi khoảng 17.250.000 đồng; T thu lợi khoảng 3.400.000 đồng; H thu lợi khoảng 700.000 đồng. Ngày 15/02/2024, T và H đã tác động người thân nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của T và H.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

Thu giữ của Nguyễn Thị Lệ T: 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno7 màu vàng, số IMEI 1: 868574063280510, số IMEI 2: 868574063280502. Đã qua sử dụng. Chiếc điện thoại trên T sử dụng tạo Facebook “Khả Doanh” để đăng bài về việc “Làm giấy ốm, giấy khám sức khỏe” dùng để thực hiện tội phạm.

Thu giữ số tiền thu lợi bất chính của T và H là 4.300.000 đồng.

Hiện tất cả vật chứng trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý chờ xử lý.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lệ T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lệ T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-11-2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo Phan Phùng Hải M, Nguyễn Hải H, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 03/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị Lệ T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Lệ T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

5. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Lệ T làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Tại nhà thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện L, Phan Phùng Hải M có hành vi truy cập trang mạng xã hội facebook “khắc dấu giá rẻ” đặt mua 03 con dấu mộc tròn Trung tâm Y tế huyện L, Bệnh viện B1, Văn phòng công chứng Phạm Văn H1 và 18 dấu mộc tên các loại. Sau đó, M thu thập các mẫu giấy khám sức khỏe, các phiếu xét nghiệm, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, sơ yếu lý lịch rồi sao in thành nhiều bản, tự ký giả chữ ký, ghi thông tin, dán ảnh cá nhân người đặt mua, sử dụng các con dấu giả để làm giả 22 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, 02 sơ yếu lý lịch, 23 giấy khám sức khỏe, 40 phôi giấy khám sức khỏe và 15 phiếu xét nghiệm, phiếu chụp X-Q. M bán các tài liệu giả trên cho người khác với giá 150.000 đồng – 200.000 đồng/ giấy khám sức khỏe, 50.000 đồng/01 ngày nghỉ/01 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, thu lợi bất chính với tổng số tiền khoảng 17.250.000 đồng.

Nguyễn Thị Lệ T có hành vi nhiều lần đặt mua của M 22 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả rồi bán lại với giá 120.000 đồng – 220.000 đồng/01 ngày nghỉ/giấy cho Nguyễn Hải H và 14 công nhân làm trong Công ty Đ thuộc khu công nghiệp H để hưởng chênh lệch, thu lợi bất chính số tiền khoảng 3.400.000 đồng.

Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lệ T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu và trật tự quản lý hành chính tại địa phương. Cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét toàn diện hành vi của bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp đủ tiền thu lợi bất chính, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ, gia đình có công với cách mạng là những căn cứ giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xét thấy hành vi của bị cáo T và bị cáo H tương tự nhau đều mua giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả để bán cho công nhân lao động kiếm lời tiền chênh lệch; T mua của bị cáo M, còn H mua của bị cáo T để bán cho công nhân; Toà án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo H các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vai trò của bị cáo trong vụ án là thấp nhất, bị cáo H đã ly hôn và hiện là lao động chính đang trực tiếp nuôi hai con nhỏ, mẹ bị cáo bị bệnh liên quan đến thần kinh nên cũng không có khả năng chăm sóc các con nhỏ của bị cáo H; trước khi bị bắt bị cáo vẫn thường trú tại địa phương; nên khoan hồng cho bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tù nhưng cho hưởng án treo; trong khi đó hành vi của bị cáo T cũng tương tự bị cáo H, bị cáo đang nuôi con nhỏ sinh năm 2015, chồng là Lê Thanh C đang chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo bản án số 114/2022/HS-ST ngày 22/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; mẹ bị cáo bà Lê Thị B thì bị bệnh nang giáp lưỡi, các dị tật bẩm sinh đặc hiệu, trượt đốt sống (L4L5); chỉ định cắt nang và một phần xương móng; hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo là lao động chính; gia đình bị cáo có công với cách mạng như ông ngoại Lê Ngọc T3 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và bà ngoại Phùng Thị X được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tặng Kỷ niệm chương chiến sỹ Trường S. Do đó với tình tiết như trên và sự công bằng giữa các bị cáo, sự khoan hồng của pháp luật; bị cáo T có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Đối chiếu Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T; giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Lệ T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lệ T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lệ T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Lệ T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự 2019 thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự; trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thị Lệ T tại phiên toà nếu bị cáo không bị tam giam về một tội phạm khác.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Điền;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Long Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về vụ án hình sự

  • Số bản án: 92/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lệ T Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger