Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02 - 8 - 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Việt Bắc;

Ông Trần Công Đẳng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết K, sinh năm: 1998.

Địa chỉ: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn : ông Võ Công K1, sinh năm: 1961.

Địa chỉ: ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng V, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hoàng L, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024, các lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết K trình bày: bà với ông V tự nguyện chung sống với nhau năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện U. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không có sự tin tưởng nhau mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Bà nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 03 con chung tên Phạm Băng B, sinh ngày 01/8/2016 hiện sống bên nội, Phạm Hoàng T Thẳng, sinh ngày 17/02/2019 và Phạm Ngọc Q, sinh ngày 31/3/2021 hiện do bà trực tiếp nuôi. Bà yêu cầu được nuôi hai con chung tên T và Q, còn Băng B muốn sống với cha thì bà đồng ý giao con cho ông V nuôi. Đối với con chung bà nuôi bà không yêu cầu cấp dưỡng, bà không ngăn cản việc ông V thăm nom con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về tài sản, ông Phạm Công K2 trình bày: Về tài sản chung thì nguyên đơn không yêu cầu, về nợ chung thì nguyên đơn không có nợ chung như ông V và ông L trình bày nên yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông V về chia nợ chung.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Hoàng V trình bày: Về tình trạng hôn nhân vợ chồng chung sống cũng có mâu thuẫn, vợ yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: có 3 con chung, ông đồng ý nuôi Phạm Băng B, đồng ý giao hai con chung tên Phạm Hoàng T và Phạm Ngọc Q cho bà K nuôi nhưng ông phải được đón con về thăm. Ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu. Về nợ chung: có nợ cha của ông tên Phạm Hoàng L, địa chỉ: ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, số tiền 86.000.000 đồng tiền mướn đất và tiền mua ghe, ông yêu cầu vợ chồng cùng trả lại cho cha ông số tiền này.

- Quá trình tố tụng, cháu Phạm Băng B trình bày: Con hiện đang ở với nội để đi học, cha mẹ không chung sống với nhau thì con đồng ý ở với cha để đi học, sau này muốn ở với mẹ thì ở với mẹ.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Phạm Hoàng L trình bày: Con ông tên Phạm Hoàng V, trước đó ông có mướn 01 miếng đất ở ấp A, xã K, huyện U để cho vợ chồng K-Vui canh tác. Sau đó, Vợ chồng K-V có mượn tiền của ông nhiều lần hơn 100.000.000 đồng mục đích để trả tiền mướn đất, mua ghe. Đã trả cho ông được 1 ít, trả lần cuối là 6.000.000 đồng vào thời gian khoảng 2 năm trước, còn thiếu lại số tiền 86.000.000 đồng đến nay chưa trả. Sau đó vợ chồng cự cãi thì cha vợ V đuổi V đi, không lấy theo của cải gì hết; ông không có yêu cầu vợ chồng cùng trả lại số tiền. K không thừa nhận có nợ ông thì ông kiện thành vụ kiện khác nếu cần.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định về xét xử của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng các Điều 51, 52, 54, 81, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Tuyết K với ông Phạm Hoàng V. Con chung: Giao con chung tên Phạm Băng B, sinh ngày 01/8/2016 cho ông Phạm Hoàng V trực tiếp nuôi dưỡng, giao Phạm Hoàng T Thẳng, sinh ngày 17/02/2019 và Phạm Ngọc Q, sinh ngày 31/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Tuyết K tiếp tục nuôi dưỡng. Tài sản chung: không yêu cầu nên không xem xét. về nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết K được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Tuyết K và ông Phạm Hoàng V tự nguyện chung sống với nhau, đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Tuyết K và ông Phạm Hoàng V là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau. Tại phiên tòa, bà K yêu cầu ly hôn, ông V đồng ý ly hôn, cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể tiếp tục nên Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn cho bà Nguyễn Thị Tuyết K và ông Phạm Hoàng V.

- Về con chung: Xét thấy, con chung tên Phạm Băng B hiện chung sống với ông V, có nguyện vọng sống với ông V và bà K đồng ý giao cho ông V nuôi nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông V về con chung, giao con chung tên Phạm Băng B cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng;

Đối với con chung tên Phạm Hoàng T Thẳng, sinh ngày 17/02/2019 và Phạm Ngọc Q, sinh ngày 31/3/2021 được bà K nuôi dưỡng từ khi vợ chồng không chung sống cùng nhau, bà K có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, từ khi bà K nuôi con đến nay chưa có tài liệu nào thể hiện bà K không đủ điều kiện nuôi con, ông V cũng đồng ý giao hai con chung cho bà K nuôi, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà K, giao con chung Phạm Hoàng T Thẳng, sinh ngày 17/02/2019 và Phạm Ngọc Q, sinh ngày 31/3/2021 cho bà Nguyễn Thị Tuyết K tiếp tục nuôi dưỡng. Bà K không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Ông V, bà K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được cản trở.

- Tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Nợ chung: Ông L xác định vợ chồng có nợ ông nhưng không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án này nên không xem xét, nếu có tranh chấp thì khởi kiện vụ án khác.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết K phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 59, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Tuyết K với ông Phạm Hoàng V.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Băng B, sinh ngày 01/8/2016 cho ông Phạm Hoàng V trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Hoàng T Thẳng, sinh ngày 17/02/2019 và Phạm Ngọc Q, sinh ngày 31/3/2021 được bà K nuôi dưỡng. Ông V, bà K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được cản trở. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết K phải chịu 300.000 đồng. Bà K đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tại biên lai thu số 0006451 ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện U Minh;
  • - Chi cục THADS huyện U Minh;
  • - Cơ quan thực hiện đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Việt Hằng

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà K yêu cầu ly hôn với ôgn V, ông V yêu cầu chia tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger