|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 02 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh;
Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 06, ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hạng A D, sinh ngày 01/01/2002, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản P, Xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Tin lành; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; bố đẻ: Hạng Giống Nhè, đã chết; mẹ đẻ: Thào Thị K, sinh năm 1954; gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 05; bị cáo chung sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với Vàng Thị C, sinh năm 2006, và có 01 con, sinh năm 2023; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Lý A T, sinh ngày 11/3/2005, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: Tin lành; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 4/12; bố đẻ: Lý Giống P, sinh năm 1979; mẹ đẻ: Hạng Thị C1, năm sinh 1979; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 04; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH X, địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
Người đại diện theo pháp luật: Anh Hoàng Liên S, chức vụ: Phó Giám đốc, vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Hạng A K1, sinh năm 1986, địa chỉ: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
Bà Hạng Thị C1, sinh năm 1979, địa chỉ: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Lý Phủ S1, sinh năm 1975, địa chỉ: Bản H, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 01 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024, anh Tẩn Láo S2, sinh năm 1975, trú tại bản Hồng Thu, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, là bảo vệ bãi khai thác đá của Công ty TNHH X (viết tắt TNHHXDTM) Hoàng Huy trình báo Công an xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu về việc anh vừa phát hiện 03 đối tượng lạ mặt đột nhập vào bãi khai thác đá, đang thực hiện hành vi phá, tháo máy biến áp điện lực 3 pha của công ty đang để ở bãi khai thác đá, nghi các đối tượng đang trộm cắp cuộn dây đồng lõi máy biến áp. Sau khi tiếp nhận thông tin, Công an xã L Thàng xuống hiện trường cùng anh S2 kiểm tra thì phát hiện 03 đối tượng đang có hành vi phá, tháo chiếc máy biến áp của công ty X. Khi tổ công tác đang tiếp cận thì 03 đối tượng bỏ chạy ra các hướng khác nhau, tổ công tác tiến hành truy đuổi nhưng không bắt giữ được. Tại hiện trường xác định công ty X có 01 máy biến áp điện lực 3 pha đang để ở dưới đất, bên cạnh cột điện, cách nhà bảo vệ 50m về bên phải, đã bị đập phá hỏng hết toàn bộ phần sứ cao áp, sứ hạ áp, nắp thân máy, thùng dầu, bên trong có 03 cuộn dây đồng nhưng đã bị tháo mất 02 cuộn, còn lại 01 cuộn. Ngoài ra, còn phát hiện tại hiện trường có 01 cuộn dây đồng là lõi của máy biến áp, 02 chiếc kìm, 01 xà beng. Anh Tẩn L S2 khai vào ngày 16/9/2023, anh phát hiện chiếc máy biến áp trên treo trên cột điện, cách nhà bảo vệ 50m bị kẻ gian tháo xuống đất, đập phá toàn bộ phần sứ cao áp, sứ hạ áp và bị trộm cắp toàn bộ phần dây điện nối trên mặt máy. Anh S2 báo công ty X, nhưng do muốn bắt quả tang các đối tượng trộm cắp nên Công ty X chỉ đạo anh S2 để nguyên hiện trường, theo dõi nhằm bắt người trộm cắp tài sản. Đến ngày 27/11/2023, anh S2 phát hiện 02 đối tượng tiếp cận chiếc máy, anh S2 chạy ra đuổi bắt nhưng các đối tượng bỏ chạy thoát. Do chiếc máy không bị hư hại, mất mát gì nên anh S2 không báo cho công ty. Đến ngày 26/12/2023, anh S2 phát hiện chiếc máy bị các đối tượng đập phá, cạy nắp máy ra và lấy trộm ½ cuộn dây đồng trong thùng dầu chính. Anh S2 không bắt được các đối tượng trộm cắp nên tiếp tục theo dõi, đến ngày 18/01/2024, anh S2 đã phát hiện các đối tượng trộm cắp và thấy chiếc máy biến áp đã bị lấy trộm hết 02 cuộn dây đồng.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Vào tháng 12/2023, Lý A T gặp Hạng A D1, sinh năm 1999, Hạng A S3, sinh năm 2000, cùng trú tại bản Pa Phang 2, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, trong lúc nói chuyện, D1 có nói với T và S3 về việc trạm biến áp ở bãi đá bản H, xã L, huyện P đã bị tháo xuống đất, mở nắp máy, lấy trộm cuộn đồng bên trong thùng dầu nhưng vẫn còn các cuộn đồng chưa tháo trộm được. Do không có tiền tiêu xài nên T, S3, D1 rủ nhau đi trộm cuộn đồng ở máy biến áp để bán lấy tiền. T, S3, D1 đã trộm cắp một nửa cuộn đồng trong máy biến áp của Công ty TNHH X tại bản Hồng Thu, xã L, huyện P. Sau đó, T được D1 chia cho số tiền 870.000 đồng, D1 bảo T là tiền bán cuộn dây đồng có được, T không biết Dinh bán cuộn đồng ở đâu, chia cho những ai và chia như thế nào. Số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 15/01/2024, T và Do gặp nhau, T có nói chuyện và rủ Do đi trộm dây đồng của máy biến áp, cả hai thống nhất khi nào trời mưa thì cùng đi trộm cắp. Do điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, biển kiểm soát 25B1 - 386.90 đi đến nhà T và chở T đến bãi đá, sau khi xem toàn bộ địa hình, nơi đặt máy biến áp thì Do chở T quay về nhà. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T đi chơi B-a cùng Hạng A L1 ở chợ thuộc xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu thì Do đến. Tại đây, D rủ T và L1 đi trộm cắp dây đồng, cả ba thống nhất cùng đi trộm và bảo nhau về nhà chuẩn bị công cụ để đi trộm cắp. T về nhà lấy 01 chiếc đèn pin loại đeo đầu rồi điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 599.94 đi, Do lấy 02 chiếc kìm, 01 chiếc đèn pin loại đeo đầu và điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 386.90 đi. Lanh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 599.94 chở T, Do đi một mình. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Do, T, L1 đi đến bãi đá thì dựng xe ở đường mòn cạnh đường Q rồi đi bộ theo đường đồi phía sau bãi đá đi vào khu vực trạm biến áp. Khi Do, T, L1 trên đường đi đến trạm biến áp thì gặp Hạng A D1 và Hạng A S3 và một người thanh niên không rõ tên, địa chỉ đi bộ từ hướng ngược lại, D1 và S3 nói hai người này cũng đi trộm dây đồng trong trạm nhưng do bị mưa lạnh nên hai người không trộm nữa nên đi về. T mượn của D1 01 chiếc xà beng rồi cùng Do, L1 đi về phía trạm biến áp, D1 và S3 đi đâu thì T, Do, L1 không biết. Đến gần chỗ máy biến áp, thấy nhà bảo vệ bật điện sáng, sợ bị phát hiện nên Do, T, L1 thống nhất đợi đến đêm muộn, bảo vệ ngủ thì mới trộm cắp. Đến khoảng hơn 00 giờ, ngày 18/01/2024, khi thấy điện ở bãi đá đã tắt T, Do, L1 đi bộ đến chỗ máy biến áp, T và D dùng kìm cắt dây thép rào sắt rồi mở một bên ra, dỡ các tấm tôn, sắt, đá và tấm bạt che xung quanh máy biến áp xuống, thấy có 02 cuộn đồng còn nguyên, L1 dùng xà beng chọc xuống cuộn dây đồng, T dùng cành củi cạy một lúc thì cuộn dây đồng ở giữa bung ra. Đến khoảng gần 02 giờ cùng ngày, T và L1 luồn xà beng vào và khiêng cuộn đồng đi về theo lối mòn trên đồi được 15 mét, Do đang đi tìm kìm để đem về, thì thấy có người soi đèn và hô hoán nên T và L1 liền bỏ xà beng và cuộn dây đồng xuống đất bỏ chạy, Do đứng ở cạnh máy biến áp thấy vậy cũng bỏ chạy. Đến sáng ngày 18/01/2024, T, Do bị Công an xã L bắt giữ.
Tại bản Kết luận định giá số: 07/KL-HĐĐGTS, ngày 29/03/2024, của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: 03 quả sứ cao áp có giá trị thay thế mới tại thời điểm tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 là 1.650.000 đồng (Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), 04 quả sứ hạ áp có giá trị thay thế mới tại thời điểm tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 là 202.000 đồng (Hai trăm linh hai nghìn đồng), 01 cuộn đồng nặng 58,5kg có giá trị thay thế mới tại thời điểm tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 là 19.831.000 đồng (Mười chín triệu, tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Trước khi Lý A T và Hạng A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì các đối tượng khác đã đập phá con sứ, lấy ½ cuộn dây đồng nên T và Do không phải chịu trách nhiệm hình sự về giá trị số tài sản này.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành xác minh, triệu tập những đối tượng có liên quan đến vụ án Hạng A L1, Hạng A, Hạng A. Tuy nhiên, các đối tượng Hạng A, Hạng A, Hạng A S3 đã rời khỏi địa phương từ tháng 01/2024 đến nay không rõ đi đâu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm ba đối tượng để tiếp tục điều tra, do thời hạn điều tra đối với Hạng A D2 và Lý A T đã hết nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của các đối tượng Hạng A, Hạng A, Hạng A để giải quyết trong vụ án khác.
Vật chứng đã thu giữ trong vụ án: 01 cuộn dây đồng có khối lượng 58,5 kg; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát: 25B1 - 599.94, số khung: RLCUE 3240JY189173, số máy: E2X9E510322, kèm theo 01 đăng ký xe số 003995, mang tên Lý A C2; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, biển kiểm soát: 25B1 - 386.90, số khung: 3659GY008325, số máy: JA36E0432047, kèm theo 01 đăng ký xe số 024230, mang tên Hạng A K1; 02 chiếc kìm, 02 đèn pin loại đeo đầu, 01 xà beng, 02 cành củi khô.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại là Công ty TNHH X không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại và không có ý kiến gì về hình phạt đối với các bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số: 36/CT-VKS-PT, ngày 14/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử các bị cáo Hạng A D2, Lý A T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Hạng A D2, Lý A T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo từ, 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Công ty TNHH X: 01 cuộn dây đồng có khối lượng 58,5 kg. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hạng Thị C1: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 599.94, kèm theo 01 đăng ký xe số 003995 mang tên Lý A C2. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hạng A K1: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 386.90, kèm theo 01 đăng ký xe số 024230 mang tên Hạng A. Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc kìm, 02 đèn pin loại đeo đầu. Đối với 01 chiếc xà beng, 02 cành củi khô, quá trình điều tra xác định vật chứng liên quan đến các đối tượng Hạng A, Hạng A, Hạng A, hiện các đối tượng đã bỏ trốn, không rõ địa chỉ nên cần giữ lại các vật chứng tại kho vật chứng Công an huyện P để phục vụ cho công tác điều tra theo hồ sơ vụ án đã được tách nên không đề cập xử lý. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung Cáo trạng và không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bày về những tiết của vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin được nhận lại tài sản thuộc sở hữu hợp pháp cảu mình, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của đại diện bị hại, người làm chứng tại phiên tòa: Đại diện bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy sự vắng mặt của đại diện bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về chứng cứ, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, trông coi tài sản nên vào ngày 18/01/2024, tại bãi đá của Công ty TNHH X thuộc bản Hồng Thu, xã L, huyện P, Lý A T và Hạng A D2 đã có hành vi trộm cắp 01 cuộn dây đồng trong máy biến áp trên của công ty TNHH X, mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua kết quả định giá tài sản xác định: 01 cuộn đồng nặng 58,5kg, có giá trị thay thế mới tại thời điểm tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 là 19.831.000 đồng.
Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và các tình tiết của vụ án.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang cho người chủ tài sản và tạo dư luận xấu trong nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo đã nhận thức được rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Đây là vụ án có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ nhau và đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích các bị cáo trộm cắp tài sản là để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện theo quy định tại Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của các bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tướng xứng, đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho các bị cáo, góp phần giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Những tình tiết liên qua đến vụ án:
Theo lời khai của Lý A T vào tháng 12/2023 và ngày 18/01/2024, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với Hạng A, Hạng A, Hạng A. Cơ quan điều tra đã triệu tập các đối tượng đến làm việc nhưng hiện các đối tượng không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy tìm ba đối tượng, đã tách hành vi của các đối tượng Hạng A, Hạng A, Hạng A để tiếp tục điều tra làm rõ. Trong vụ án này, ngoài lời khai của Lý A T, không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ để xác định T đã thực hiện hành vi phạm tội vào tháng 12/2023.
Đối với anh Hạng A K1, là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 386.90, việc Hạng A D2 lấy xe của anh K1 dùng vào việc phạm tội nhưng anh K1 không biết. Vì vậy, anh K1 không phạm tội.
Đối với Lý A C2, sinh năm 2000, trú tại bản Pa Phang 2, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 599.94, anh C2 đi làm công nhân ở Quảng Ninh và chiếc xe được giao lại cho mẹ là bà Hạng Thị C1 quản lý, sử dụng. Việc Lý A T lấy xe dùng vào việc phạm tội thì anh C2 và bà C1 không biết. Vì vậy, anh C2 và bà C1 không phạm tội.
Trước khi Lý A T và Hạng A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì các đối tượng khác đã đập phá con sứ, lấy ½ cuộn dây đồng trong máy biến áp nên T và D2 không phải chịu trách nhiệm hình sự về giá trị số tài sản này.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý các vật chứng: 01 cuộn dây đồng có khối lượng 58,5 kg, là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH X nên cần trả lại cho Công ty. 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát: 25B1 - 599.94, kèm theo 01 đăng ký xe, là tài sản thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hạng Thị C1. Do bà C1 không biết việc bị cáo T sử dụng xe vào việc phạm tội, bà C1 có nguyện vọng được nhận lại xe nên cần trả lại xe cho bà C1. 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, biển kiểm soát: 25B1 - 386.90, kèm theo 01 đăng ký xe, là tài sản thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hạng A K1. Do anh K1 không biết việc bị cáo D2 sử dụng xe vào việc phạm tội, anh K1 có nguyện vọng được nhận lại xe nên cần trả lại xe cho anh K1. 02 chiếc kìm và 02 đèn pin loại đeo đầu là tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xà beng, 02 cành củi khô, quá trình điều tra xác định vật chứng liên quan đến các đối tượng Hạng A, Hạng A, Hạng A, hiện các đối tượng đã bỏ trốn, không rõ địa chỉ nên cần giữ lại các vật chứng tại kho vật chứng Công an huyện P để phục vụ cho công tác điều tra theo hồ sơ vụ án đã được tách nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Gia đình bị cáo Hạng A thuộc diện hộ cận nghèo, gia đình bị cáo Lý A T thuộc diện hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
- Các bị cáo Hạng A D2, Lý A T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Hạng A D2: 06 (Sáu) tháng, 15 (Mười lăm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024 (Thời hạn tù bằng thời hạn bị tạm giữ, tạm giam).
Xử phạt bị cáo Lý A T: 06 (Sáu) tháng, 15 (Mười lăm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024 (Thời hạn tù bằng thời hạn bị tạm giữ, tạm giam).
Áp dụng Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho các bị cáo Hạng A D2, Lý A T ngay tại phiên tòa.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số vật chứng của vụ án, gồm:
- Trả lại cho Công ty TNHH X: 01 cuộn dây đồng có khối lượng 58,5 kg.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hạng Thị C1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát: 25B1 - 599.94, kèm theo 01 đăng ký xe số 003995 mang tên Lý A C2.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hạng A K1: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, biển kiểm soát: 25B1 - 386.90, kèm theo 01 đăng ký xe số 024230 mang tên Hạng A.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc kìm, 02 đèn pin loại đeo đầu.
(Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút, ngày 27/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cácbị cáo TCTS
