Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HSST

Ngày: 02/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải (giáo viên nghỉ hưu);

2. Ông Trần Mạng Khang (giáo viên nghỉ hưu);

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thế Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 13/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Vi Văn L - Sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006 tại Thanh Hoá; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Vi Văn L1 và bà Hà Thị M; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. (Có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Vi Văn L1, sinh năm 1978; Bà Hà Thị M, sinh năm 1982 (là bố mẹ đẻ); Nơi ở: thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Thị Phương T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý – Sở Tư pháp thành phố Hà Nội (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị M, sinh năm 1982; Nơi ở: thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng trưa ngày 16/04/2024 Vi Văn L đi đến khu vực trường THCS L2, xã L, huyện H, TP Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp một người đàn ông tên S, L và hỏi mua được 01 (một) gói giấy bạc bên ngoài bọc nilong màu trắng, bên trong gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng là Heroine với giá 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy heroine, L đi đến xưởng làm việc của bạn gái là Hà Thị N (sinh năm 2005, NCT: xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) tại thôn N, xã A, huyện H, TP Hà Nội để lấy xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, BKS: 36M1-194.77 và điều khiển xe máy trên đi về xã L, huyện H, TP Hà Nội tìm nơi sử dụng ma túy heroine. Khoảng 13 giờ 5 phút cùng ngày, L đi đến khu vực cổng thôn Q, xã L, huyện H, TP Hà Nội thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra, phát hiện L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Vi Văn L đã thả gói ma túy Heroine trên xuống đất. Sau đó, Công an xã L biên bản phạm tội quả tang và đưa Vi Văn L về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói giấy bạc bên ngoài bọc nilong màu trắng, bên trong gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, BKS: 36M1-194.77, số khung RLCUG1010LY305375, số máy G3D4E1076414 đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 2906/KL-KTHS ngày 25/04/2024 của Phòng K - C kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc (bên ngoài bọc nilong màu trắng) là ma túy Heroine, khối lượng 0,204 gam”.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vi Văn L, L khai có biết tên là S nhưng không biết tên thật tuổi, địa chỉ. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh đen, BKS 36M1-194.77 mà L sử dụng ngày 16.4.2024, quá trình điều tra xác định, chủ sỡ hữu hợp pháp là bà bà Hà Thị M (mẹ đẻ của bị cáo L) bà M không biết việc L sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy Heroine về sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu xác định, chiếc xe máy này không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKSHĐ ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đã truy tố Vi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn L giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, bị cáo Vi Văn L thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Vi Văn L, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vi Văn L với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo; Trả lại cho bà M 01 chiếc xe máy Yahama Exciter. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bà T nhất trí với quan điểm của VKSND huyện Hoài Đức về tội danh, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định ma túy là loại Heroine, khối lượng 0,204gam, cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 16/4/2024, tại khu vực thôn Q, xã L, huyện H, TP Hà Nội, Vi Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói giấy bạc bên ngoài bọc nilong màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma tuý loại Heroine có khối lượng 0,204 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an xã L phát hiện kiểm tra hành chính, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, đây là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo việc cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

[6] Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội (từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi) nên áp dụng các Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.

[7] Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện bị cấm lưu hành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 36M1-194.77 mà L sử dụng ngày 16.4.2024, quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu hợp pháp là bà Hà Thị M, bà M không biết việc L sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy Heroine về sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu xác định, chiếc xe máy này không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng, do vậy trả lại chiếc xe máy trên cho bà M là phù hợp quy định pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được tên thật và địa chỉ. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an huyện H không có căn cứ điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.

[10] Quá trình bắt quả tang Vi Văn L, cơ quan Công an huyện H tiến hành xét nghiệm nước tiểu cho kết quả dương tính đối với ma túy, L khai ngày 15/4/2024 có sử dụng ma túy nên Cơ quan Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính số 424/QĐ-XPHC ngày 21/6/2024 đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • + Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố H, có ghi tên đối tượng Vi Văn L, sinh năm 2006, HKTT: Hợp Nhất, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ngày niêm phong 16/4/2024. Tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký, họ tên của Giám định viên, cán bộ điều tra và đối tượng Vi Văn L.
    • + Trả lại cho bà Hà Thị M 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yahama Exciter, màu xanh đen, đã qua sử dụng, BKS 36M1-194.77, SK RLCUG1010LY305375, SM: G3D4E1076414. Xe không có gương chiếu hậu.

      (Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/QĐ-VKSHĐ-HS ngày 07/6/2024 của VKSND huyện Hoài Đức và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Công an huyện H, TP . Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP . Hà Nội)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Vi Văn L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Bị cáo Vi Văn L, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Hà Thị M có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần quyết định của bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NBC, NĐD; NLQ;
  • - UBND x.Luận Khê, h.Thường Xuân, Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Hoài Đức;
  • - Công an huyện Hoài Đức;
  • - Chi cục THADS h.Hoài Đức;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP.Hà Nội;
  • - Lưu: VP, THAHS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 92/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Linh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger